Ở các xã vùng cao, tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng đã không còn là câu chuyện cá biệt. Việc vận động các em đến lớp, giữ các em ở lại trường đối với các thầy, cô giáo nơi đây không dễ. Tại xã Ba Bể, ở bậc THCS, duy trì sĩ số vẫn là bài toán khó, bởi phía sau những con chữ là khoảng cách địa lý, rào cản nhận thức và cả những lo toan trong nhiều gia đình.
![]() |
| Đại diện nhà trường cùng chính quyền địa phương đến từng gia đình vận động học sinh trở lại lớp. |
Giữa vùng hồ Ba Bể mênh mông, những con đường đất ngoằn ngoèo men theo sườn núi vẫn ngày ngày in dấu chân học sinh đến lớp. Nhưng phía sau những bước chân ấy là nỗi trăn trở không dễ gọi thành tên, làm sao giữ các em ở lại trường.
Tại Trường TH&THCS Nam Mẫu, xã Ba Bể, nơi có tới 68% học sinh là người dân tộc Mông, duy trì sĩ số, nhất là ở bậc THCS, vẫn luôn là bài toán khó. Năm học này, toàn trường có 21 lớp với 391 học sinh, trong đó bậc THCS có 4 lớp với 144 em.
Dù đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp, nhưng từ đầu năm học đến nay vẫn có 5 học sinh bỏ học, trong đó có 2 em bỏ học do tảo hôn, tất cả đều thuộc diện gia đình khó khăn.
Cô giáo Triệu Thị Thắm, Trường TH&THCS Nam Mẫu, chia sẻ: Có em học sinh nhà ở cách xa trường tới 20km, đi lại vất vả nên nghỉ học giữa chừng. Nhà trường và giáo viên đã nhiều lần đến vận động nhưng việc duy trì lâu dài vẫn rất khó khăn.
![]() |
| Trong lớp học vùng cao, mỗi học sinh đến lớp đều là kết quả của sự kiên trì vận động từ nhà trường và gia đình. |
Không chỉ điều kiện đi lại, rào cản lớn hơn còn nằm ở nhận thức. Tại một số gia đình, việc học chưa thực sự được coi trọng, nhất là với học sinh bậc THCS. Thầy giáo Hoàng Kim Tụ, cho biết: Khó khăn nhất vẫn là phụ huynh đi làm xa, con ở với ông bà nên thiếu sự quản lý, quan tâm. Nhiều em học yếu, chán học rồi tự bỏ học.
Thực tế cho thấy, có những em dù vẫn đi học nhưng lại trọ ở bên ngoài, không đến lớp đều đặn. Nhà trường, giáo viên và gia đình đã nhiều lần tuyên truyền, vận động, nhưng sau một thời gian quay lại lớp, các em tiếp tục nghỉ học. Cá biệt, có em dù gia đình không đồng ý nhưng vẫn tự ý bỏ học để đi làm thuê hoặc kết hôn sớm.
Trước thực trạng đó, nhà trường đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Ban vận động học sinh trở lại trường được thành lập, giáo viên chủ nhiệm cùng chính quyền thôn, bản thường xuyên đến từng hộ gia đình để nắm tình hình, tuyên truyền, thuyết phục. Những chính sách hỗ trợ bán trú cũng được thực hiện đầy đủ nhằm giúp học sinh yên tâm học tập.
Hiện nay, nhà trường đã bố trí chỗ ở bán trú cho 45 học sinh ở xa, phần nào giảm bớt khó khăn đi lại cho các em. Tuy nhiên, số lượng chỗ ở còn hạn chế, nhiều em vẫn phải thuê trọ bên ngoài, tiềm ẩn nguy cơ bỏ học.
![]() |
| Sau giờ học, em Giàng Thị Phượng, học sinh lớp 6, tự nhóm bếp nấu cơm tại nhà trọ. Điều kiện sinh hoạt thiếu thốn khiến nguy cơ bỏ học luôn hiện hữu. |
Cô giáo Hoàng Thị Nhung, Hiệu trưởng Trường TH&THCS Nam Mẫu, cho biết: Chúng tôi đã thành lập các tổ, đến từng gia đình vận động học sinh trở lại lớp. Có em đã quay lại học, nhưng sau đó vẫn bỏ học, bố mẹ cũng khuyên bảo nhưng các em không tới lớp nên việc duy trì sĩ số thực sự rất khó khăn.
Không chỉ là câu chuyện của riêng một ngôi trường, việc học sinh bỏ học ở bậc THCS tại Ba Bể còn phản ánh những khó khăn chung của giáo dục vùng cao: điều kiện kinh tế khó khăn, hủ tục lạc hậu, nhận thức của người dân chưa đồng đều và sự thiếu gắn kết giữa gia đình - nhà trường - xã hội.
Bởi thế, giữ chân học sinh ở lại lớp, không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành Giáo dục mà cần sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và cộng đồng. Khi những con đường đến trường vẫn còn gập ghềnh, thì hành trình giữ vững sĩ số cũng sẽ còn nhiều gian nan.










Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin