Đất nước dòng giống Rồng tiên có nhiều ngọn núi mang tên Phượng Hoàng. Nổi danh nhất từ xưa là núi Phượng Hoàng ở đất cổ Chí Linh. Ngoài vẻ đẹp thiên nhiên quyến rũ với truyền thuyết 72 con chim phượng hoàng đang sải cánh bay ngang trời đã đáp xuống thành 72 ngọn núi kỳ vĩ, núi Phượng Hoàng còn gắn liền với dấu tích nhiều nhân vật xuất chúng, đặc biệt là Danh nhân thế giới Chu Văn An, người được mệnh danh Vạn thế sư biểu - Người thầy muôn đời của dân tộc.
Một vùng non nước hữu tình và linh thiêng ẩn chứa trong lòng những bí kíp tinh hoa mà mỗi người về đây có thể khám phá để tự thức tỉnh, soi rọi từng trang tâm hồn vi diệu lẫn u minh của mình, nhất là vào dịp Xuân về Tết đến.
![]() |
| Quang cảnh đền thờ Chu Văn An. |
Huyền thoại 72 con chim phượng hoàng
Những cánh rừng thông bát ngát. Xen kẽ là những loại cây thân thẳng hay dây leo. Không khí mát mẻ yên tĩnh. Đường lên núi rộng mở kết nối giữa các di tích. Mỗi lần về núi Phượng Hoàng và núi Côn Sơn ở đất cổ Chí Linh đều mang lại cho tôi nhiều xúc cảm dâng trào trước cảnh núi non hùng vĩ lưu giữ bao dấu tích bí ẩn của người xưa, để rồi trong những cơn mơ tôi lại được trở về chốn linh thiêng này để thấu hiểu hơn thế thái nhân tình: “Đêm mơ bóng tiền nhân/ Về núi Phượng Hoàng tìm gặp Tiều Ẩn/ Người cùng học trò lãng du chữ nghĩa non ngàn/ Về núi Côn Sơn hầu chuyện Ức Trai/ Người ngược suối nguồn đề thơ lá xanh mây trắng/ Chuyện thế gian ư? Hạt bụi vô ưu lưu lạc vô thường!”.
Vào tháng 5-1994, lần đầu chúng tôi được về thăm núi Phượng Hoàng, cũng là lần đầu ra miền Bắc nhân dịp tham dự Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc. Hơn mười năm sau chúng tôi được hai nữ sĩ Hải Dương là Nguyễn Việt Nga và Trương Thương Huyền đưa đi thăm một vòng các di tích quanh núi Côn Sơn và núi Phượng Hoàng.
Mùa Xuân này, là lần thứ ba tôi cùng hai nhà thơ Đào Quốc Vịnh và Đào Vinh Quang vượt hơn 80km từ Hà Nội theo đường cao tốc về phía Đông rồi rẽ về Chí Linh lên núi Phượng Hoàng dâng hương cho Danh nhân Văn hóa thế giới Chu Văn An và các bậc tiền nhân khác.
Dãy núi Phượng Hoàng thuộc địa phận Chí Linh, tỉnh Hải Dương nay thuộc thành phố Hải Phòng. Theo truyền thuyết, vào một ngày trên bầu trời Chí Linh bỗng xuất hiện đàn chim phượng hoàng gồm 72 con. Tung cánh bay lượn vòng quanh đất thiêng, nhận thấy quang cảnh non nước hữu tình nên đàn chim không bay đi nữa mà đáp xuống và hóa thân thành dãy núi 72 ngọn. Một bức tranh thiên nhiên tuyệt tác hiện ra. Rừng thông mọc lên bát ngát. Suối nguồn róc rách ngày đêm. Chim muông líu lo vui vầy. Trong sách “Chí Linh huyện sự tích” có câu ca:“Quần sơn la liệt trận bày/ Tả hữu tung cánh, phượng bay ngang trời”.
Về mặt địa chất, dãy núi Phượng Hoàng được kiến tạo thấp dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, nối tiếp với đồng bằng phù sa và soi mình xuống sóng nước Lục Đầu Giang mênh mang. Hình ảnh chim quý phượng hoàng mang tính biểu tượng cho vẻ đẹp trí tuệ và oai phong. Còn núi Phượng Hoàng là mạch núi vô cùng linh thiêng của đất cổ Chí Linh. Mạch núi này trong các thư tịch cổ còn được gọi là Kiệt Sơn.
Nhà văn Trương Thương Huyền cho biết, trong 72 ngọn của dãy núi Phượng Hoàng thì cao nhất gọi là núi Cả, cũng là ngọn đẹp nhất được thầy Chu Văn An chọn làm nơi yên nghỉ ngàn thu. Đứng trên núi Cả nhìn bao quát cả một vùng non nước rộng lớn, phía trước có núi Ngọc như một bức chắn tiền án và hai bên sườn núi như cánh phượng hoàng đang múa.
Vào lúc bình minh ló rạng, ánh mặt trời dần xua đi những màn sương mờ, núi Phượng Hoàng hiện ra trong bạt ngàn cây cối tươi xanh. Thế núi đứng bao quanh như muốn ôm chặt vào lòng ngọn “tuệ đăng” bậc thầy muôn đời của dân tộc. Từ núi Cả phóng tầm mắt còn có thể thấy rõ xa xa núi Côn Sơn hay đỉnh Ngũ Nhạc.
Giống như bên núi Côn Sơn có suối Côn Sơn đổ xuống hồ Côn Sơn, trên dãy Phượng Hoàng có một dòng suối chảy từ đỉnh núi men theo con dốc đổ xuống hồ Phượng Hoàng. Suối sâu và rộng. Từ nguồn đến điểm kết thúc suối dài khoảng 4km. Đây là dòng suối cổ. Dân gian vùng này từng truyền tụng câu: “Nước làng Dọc, thóc làng Sui”.
Làng Dọc nay là một khu dân cư, còn làng Sui nay là làng Tiền Định. Nước làng Dọc ý nói dòng suối trong xanh đầy ắp chảy qua mang lại nguồn nước mát lành cho ngôi làng, cũng như làng Sui ở dưới nguồn đón dòng nước quý nên cây lúa luôn tốt tươi cho được nhiều thóc.
Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga cho hay, trong huyền sử “Chí Linh bát cổ”, Tiều Ẩn cổ bích là một trong tám địa danh liên quan mật thiết đến sự nghiệp của Chu Văn An tại núi Phượng Hoàng. Bản thân thầy khi về đây cũng nhận mình là một tiều phu ở ẩn. Ngày nay, đền chính là Phượng Sơn Linh Từ thờ thầy và mộ của thầy trên núi Cả luôn được khách thập phương tìm về thăm viếng. Bên cạnh đền thờ và lăng mộ, trên núi Phượng Hoàng còn có những di tích liên quan cuộc đời thầy Chu Văn An như điện Lưu Quang, Miết Trì, giếng Son, giếng Ngọc,…
Ngoài khu di tích Chu Văn An, rải rác trên núi Phượng Hoàng còn có nhiều di tích lịch sử đáng chú ý khác như Huyền Thiên cổ tự, Tinh Phi cổ tháp, Kỳ Lân cổ tự,… gắn liền với nhiều nhân vật nổi tiếng. Mỗi di tích, mỗi nhân vật là một nét văn hóa độc đáo góp phần làm đẹp hơn núi Phượng Hoàng.
Vạn thế sư biểu - Người thầy muôn đời Chu Văn An
Chu Văn An tên thật là Chu An, hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ Linh Triệt, sinh ngày 6/10/1292 tại làng Quang, thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, nay thuộc Hà Nội. Từ một nhà giáo, thầy thuốc độc lập, ông trở thành người đứng đầu Quốc Tử Giám, dạy học cho thái tử nhà Trần, được xem là ông tổ các nhà nho, có tầm ảnh hưởng lớn đến lịch sử nền giáo dục nước ta.
![]() |
| Đền thờ Chu Văn An. |
Khi viết về Chu Văn An, các sử gia biên soạn sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết ông “tính cương nghị, thẳng thắn, sửa mình trong sạch, không cầu lợi lộc”. Ông tự ở nhà đọc sách, học vấn tinh thông, mở trường dạy học, nổi tiếng gần xa, "học trò đầy cửa, thường có kẻ đỗ đại khoa". Dù đỗ thái học sinh, học vị tiến sĩ thời nhà Trần, nhưng ông không ra làm quan, ở nhà mở trường dạy học, ước mong đào tạo học trò có đủ tài đức phụng sự đất nước.
Ngôi trường của Chu Văn An ở làng Huỳnh Cung gần làng Quang quê mẹ. Thuở ấy, cả nước chỉ có một trường quốc lập là Quốc Tử Giám ở kinh đô Thăng Long dành cho con cháu vua quan, về sau mới mở rộng cho những người tài trong nhân dân theo học.
Ngoài ra, còn có Tư Thiện Đường, Toát Trai Đường ở Thiên Trường, Nam Định là trường dành cho con em tôn thất nhà Trần; trong khi Trường Yên Tử ở Quảng Ninh hay Hương Sơn ở Hà Tây thì dành riêng cho nhà chùa. Nghĩa là trường học thời bấy giờ rất hiếm, nên con em nhân dân phần lớn thất học. Vì vậy, việc Chu Văn An mở trường Huỳnh Cung là một sự kiện hiếm có, thu hút đông đảo học trò khắp cả nước.
Trường làng Huỳnh Cung có thư viện, các lớp từ hạng ấu học, mộng học, trung tập và đại tập (tương đương với vỡ lòng, tiểu học, trung học và đại học), với chương trình giảng dạy khác nhau. Nhiều học trò của Chu Văn An đã đỗ đạt cao. Đặc biệt, trong khoa thi năm 1314, dưới triều vua Trần Minh Tông, hai môn sinh Phạm Sư Mạnh và Lê Quát đã đỗ thái học sinh, gây tiếng vang lớn cả nước. Sự kiện này tạo động lực mở ra nhiều trường dân lập khác cho con em nhân dân có điều kiện học hành, một dấu mốc quan trọng trong lịch sử giáo dục nước ta.
Nguyên tắc cốt lõi của danh sư Chu Văn An là người thầy phải nghiêm minh, tấm gương đạo đức cho môn sinh. Nhờ đó, dù học trò sau này có làm quan to vinh hiển tột đỉnh cũng luôn hết mực tôn kính thầy. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Ông ở nhà đọc sách, học vấn tinh thông, nổi tiếng gần xa, học trò đầy cửa, thường có kẻ đỗ đại khoa, vào chính phủ.
Như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát đã làm hành khiển mà vẫn giữ lễ học trò, khi đến thăm thầy thì lạy hỏi ở dưới giường, được nói chuyện với thầy vài câu rồi đi xa thì lấy làm mừng lắm. Kẻ nào xấu thì ông nghiêm khắc trách mắng, thậm chí la hét không cho vào. Ông là người trong sạch, thẳng thắn, nghiêm nghị, lẫm liệt đáng sợ đến như vậy đấy. Minh Tông mời ông dạy thái tử học”.
Thái tử Trần Vượng học trò của Chu Văn An về sau lên ngôi thành Vua Trần Hiến Tông trị vì được 13 năm thì qua đời. Tiếp đến là thời Trần Dụ Tông, do nhà vua ham chơi hát xướng, xây nhiều cung điện, nịnh thần lộng hành, triều chính rối ren, Chu Văn An can gián không nghe bèn dâng “Thất trảm sớ” xin vua trừng trị bảy tên gian thần đang làm suy vi đất nước. Nhưng vua đọc sớ rồi bỏ qua. Thầy Chu lập tức treo ấn từ quan, về sống ẩn dật trên núi Phượng Hoàng ở Chí Linh, lấy hiệu Tiều Ẩn, nghĩa là người đi ẩn hái củi.
Danh sư Chu Văn An lại mở trường dạy học, dù xa xôi nhưng nhờ uy danh của ông vẫn thu hút học trò khắp cả nước về học. Đồng thời, ông còn trồng vườn thuốc, nghiên cứu y học chữa bệnh cho dân chúng, lúc rảnh rỗi thì ngâm vịnh, làm thơ, viết sách.
Tác phẩm của ông gồm các quyển: Y học yếu giải, Quốc ngữ thi tập, Tiều Ẩn thi tập và một số tác phẩm thơ ca bằng cả chữ Hán và chữ Nôm… thể hiện tình yêu thiên nhiên, đất nước và tâm tình của kẻ sĩ. Hết Vua Trần Dụ Tông tới vua Trần Nghệ Tông mời trở về giúp việc triều chính nhưng ông đều từ chối. Chỉ khi Trần Nghệ Tông dẹp loạn Dương Nhật Lễ phục hồi ngôi vị nhà Trần, mặc dù đã 77 tuổi ông vẫn chống gậy về Thăng Long chúc mừng.
![]() |
| Mộ danh nhân Chu Văn An trên đỉnh núi Phượng Hoàng. |
Ngày 26/11/1370, Chu Văn An qua đời tại núi Phượng Hoàng hưởng thọ 79 tuổi. Trân trọng tài năng, nhân cách và sự cống hiến lớn của ông, Vua Trần Nghệ Tông đã truy phong tước Văn Trinh công, đưa vào thờ tự trong Các Văn miếu như bậc thánh hiền. Nhiều nơi trong nước cũng lập đền thờ ông.
Vào tháng 11-2019, Chu Văn An được Đại hội đồng UNESCO vinh danh là “Danh nhân văn hóa thế giới” và ra Nghị quyết cùng Việt Nam tổ chức kỷ niệm 650 năm ngày mất của ông vào năm 2020. Vinh dự ấy rất xứng đáng đối với một bậc danh nho tiết tháo Vạn thế sư biểu- Người thầy muôn đời, như sử gia Phan Huy Chú từng ca ngợi: “Làng nho nước Việt, trước sau chỉ có một ông, các người khác không ai so sánh được”.










Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin