Mùa cần phải xuân, người cần phải yêu

Hoàng Sông Gianh 16:18, 17/03/2026

Tiểu thuyết Rừng Na Uy của nhà văn Haruki Murakami có đoạn:

“- Tớ thực sự thích cậu, Midori à. Thích lắm.

- Lắm là bao nhiêu?

- Là như một chú gấu mùa xuân.

- Một chú gấu mùa xuân ư? Thế nghĩa là sao? Một chú gấu mùa xuân.

- Cậu đang bước đi trên một cánh đồng, chỉ có một mình, vào một ngày xuân, và chú gấu con bé nhỏ đáng yêu ấy, với bộ lông mượt như nhung và cặp mắt nhỏ sáng ngời chạy tới đi cùng với cậu. Và nó nói “Xin chào tiểu thư. Có muốn lộn nhào với tôi không?”. Thế là cậu với chú gấu chơi với nhau cả ngày hôm đó, quấn quýt trong tay nhau, lăn mình xuống triền đồi phủ đầy hoa cỏ ở đó. Hay chưa nào?

- Ờ. Thật là hay.

- Tớ thích cậu đến như vậy đấy”.

Thiết nghĩ, nếu không có đôi mắt được phát quang đến thoáng đãng  trong veo, nếu không có tâm hồn được dọn dẹp đến thơm tho sạch sẽ, hay nói như nhà văn Kawabata Yasunari (Nobel văn học 1968), nếu không biết “sửa soạn tấm lòng sao cho thật trong sáng và đẹp đẽ”… thì Murakami khó có thể nhìn thế giới bằng ngôn từ một cách xuân mởn như thế. Đó chính là trạng thái thuần khiết tự nhiên, biết khám phá và rung động trước những ý nghĩa mới như đứa trẻ nghe được cả đại dương trong chiếc vỏ ốc nhỏ nhoi.

Vườn xuân của mẹ. Tranh: Nguyễn Thị Thành
Vườn xuân của mẹ. Tranh: Nguyễn Thị Thành

Nhà văn Victor Hugo nói: “Tình yêu khiến con người ta trẻ con hơn”. Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền cũng nói, tình yêu khiến tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ/ trong sạch như một lần sự thật. Đúng vậy, nhưng cũng cần nói thêm, phải sở hữu một tâm hồn “trẻ con” thì con người ta mới đến được “tình yêu”.

Nghĩa là, nói như nhà văn Nam Cao, nếu con người ta mang “đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỉ”, hay nói như nhà văn Phạm Duy Nghĩa, nếu con người ta mắc “bệnh tỉnh”, nhìn ai cũng thấy chẳng có gì đáng yêu, thì làm sao có thể mở cửa trái tim để yêu và ấp iu tình yêu được.

Vâng, từ thoạt kì thuỷ cho đến ngày tận thế, tình yêu luôn là nguồn năng lượng, nguồn cảm hứng vô biên bất tận đối với chủ thể sống và viết.

Tình yêu xưa như trái đất, cũ như loài người, tất yếu như thức ăn nước uống không khí thở. Ấy nhưng, tình yêu luôn mới. Bởi trái đất luôn vận động. Loài người là sự cộng sinh thay thế của vô vàn con người. Mỗi con người là một chủ thể yêu. Mỗi chủ thể yêu là một chủ thể trải nghiệm và sáng tạo. Một khi chủ thể yêu đồng thời là chủ thể thơ thì ở đó tình yêu càng đặc biệt được sáng tạo.

Phải chăng vì quan niệm: sống/ hành trình tiến về phía trước/ trên con đường trong trải nghiệm của riêng mình; không trải nghiệm tình yêu/ đời người như hạt giống nằm trong lọ/ không gieo trồng; ta làm mới chính mình để nuôi dưỡng tình yêu..., nên đời sống đời thơ của Lê Khánh Mai không ra ngoài từ-trường-yêu. Với chị, yêu là lí do sống cũng là mục đích sống; hay nói cách khác, chị yêu để sống và sống để yêu. Và thơ, vừa là cách chị vật chất hoá cái tình yêu ngồn ngộn thường trực trong mình, vừa là cách chị đối thoại với tình yêu đó, định danh nó, khai mở mật ngôn của nó: như tình yêu chọn thơ làm nơi nương náu; chân lí tìm đâu trong cõi mông lung/ cỏ vẫn lặng lẽ xanh lặng lẽ úa tàn.

Cái tên Lê Khánh Mai mang đến cho người đọc hình dung về một chủ thể mà ở đó năng lượng trữ lượng sống-yêu-viết dường như luôn trong trạng thái vơi rồi lại đầy. Chính trạng thái vơi rồi lại đầy (khác với luôn đầy) này khiến cho cái năng lượng trữ lượng kia không ngừng được tái tạo và sáng tạo, để rồi cái sống cái yêu cái viết kia luôn mới mẻ sinh sôi.

Thế giới thơ trong tập thơ Mật ngôn của tình yêu của Lê Khánh Mai song tồn hai mặt đối lập hiện thực và giấc mơ, trong đó, chủ thể bung phá nới giãn hoá giải hiện thực bằng giấc mơ, cũng là cách để hiện thực hoá giấc mơ: như chiếc hạt ủ sâu trong lòng đất trút bỏ lớp vỏ úa tàn/ đội mầm xanh đón những giọt sương mai soi bóng nụ cười và nước mắt; trên ngưỡng cửa ngôi nhà ta chia tay với bóng đêm/ mang theo giấc lành hái từ ngôi sao số phận. Dẫu vẫn biết hữu hạn đời người/ bí mật lớn lao trong tay thiên cơ, nhưng phận người lại đồng thời là trong tay con người, do con người làm chủ. Giữa sâu rộng vũng bi kịch bởi đứt lìa dang dở mất mát, mầm sống mầm yêu mầm thơ cứ cựa quẫy bung bật: ánh sáng chống lại bóng tối/ đánh thức những cơn mê/ bật dậy những hạt máu li ti/ mạnh hơn ngựa chiến; người lặng lẽ thắp lên tín hiệu xanh/ và tôi bừng thức/ như chiếc lá thu tàn/ tái sinh diệp lục; tháng chạp kết thúc và tàn lụi/ cho những điều mới mẻ sinh ra; loài người tăm tối vì giam hãm mình trong định kiến/ sự nghèo nàn của thơ vì tự giới hạn trong những điều hiện hữu.

Đúng vậy, con người cần tranh thủ tự yêu lấy mình từng satna hiện sinh. Tự phá vỡ định kiến để vượt thoát giới hạn, đó là cách khả dụng giúp con người khai minh cho mình, làm giàu có cho thơ: hãy sẵn sàng cây cọ/ căng tấm toan cát trắng/ và vẽ lên đó/ tình yêu; hãy đi con đường bên ngoài những con đường.

Một khi sống hết mình yêu tận độ, rồi dốc kiệt cái lưng túi sống và yêu ấy lên thơ, thì con người đã đóng được con dấu hữu hạn đời mình lên càn khôn vô hạn, dự phần làm tươi mới trái đất, làm đa dạng đa sắc thế giới loài người: những ngón tay định mệnh văn chương/ đóng đinh nỗi khát yêu của những người đàn bà đa cảm; hạnh phúc này/ oan nghiệt này/ khoảnh khắc này/ là/ cả một đời yêu. 

Thi tập Sự im lặng biếc xanh như là một cách Như Bình tự thú, rằng thực ra mình chỉ là một “con thú”, hoang dại và cô đơn, bị nhốt và bỏ đói quá sâu và quá lâu: em không thể chạy đến để nói với anh thật ra em rất cô đơn/ con thú hoang trong em rũ lông cụp đuôi lùi về phía bìa rừng/ gục đầu thú tội/…/ nỗi nhớ phờ phạc đổ bóng những chiều tà/ nỗi nhớ rạc gầy trong xác thân héo rũ/ nỗi nhớ như axit ăn mòn răng và tóc/ chỉ còn trơ lại hốc mắt khô/…/ con thú hoang đã nhốt sâu/ dù nó nhe răng van vỉ em bằng cái vẻ cụp đuôi xờ xạc/ dù nó đã cắn em suốt đêm trong nỗi nhớ anh phờ phạc.

Như Bình diễn nhiều vai, thực hành nhiều bổn phận, để rồi sau cuối chị trở về đúng nghĩa trái tim mình, thảng thốt nhận ra mình vừa đáng thương vừa đáng trách, bởi tự giam cầm trái tim, bất tuân nó, thì đồng nghĩa với ngược đãi bản thân, và hơn thế, đồng nghĩa với tự “biến mình thành kẻ sát nhân lạnh giá”, nạn nhân ở đây không phải là ai khác mà là chính mình.

Nếu với nàng Kiều, "khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan”, thì với Như Bình, chị muốn "tất toán” khối tình khi còn chưa mãn hạn sống. Chị sợ hãi cái chết, bởi chưa kịp yêu, tức chưa kịp sống: em không muốn làm một hồn ma lạc lối/ em đã kịp sống đâu/ em đã kịp yêu đâu/ kẻ khát tình là em, yêu dại điên cũng là em, yêu như tử vì đạo chỉ có thể là em/ em nào đã kịp hôn và yêu như Eva thuở hồng hoang/ ngọt ngào trái cấm/ người đàn bà sợ chết/ như sợ sự đày ải tăm tối/ sợ vô biên cơn đói yêu thương/ sợ hồn ma/ dật dờ/ khóc than/ tiếc nuối; bây giờ gặm nhấm trước khổ đau/ để khi chết hồn không còn nước mắt/ cùng xác thân, yên ngủ dưới đất sâu. Với Như Bình, thơ là nơi mà chị được tự do bày tỏ cái khát-vọng-thành-thực bao năm phong kín: hãy để em được cất tiếng/ thanh âm như những kí tự/ em truyền chú mật ngữ vào thinh không. 

Tình yêu - như hiện bày ở ngay tên tập thơ - là nguồn mạch cảm xúc chủ đạo của Em lót thảm đợi anh của Hà Hồng Hạnh. Ở đây, tình yêu không thuộc thì hiện tại, mà thuộc thì quá khứ - một quá khứ vừa đã mất vừa chưa thể hoàn tất. Thơ trong tập thơ này, vì vậy, là thơ của những hoá chất cảm xúc: thứ mùi lưu luyến, dai dẳng, ám rất lâu vào tâm trí người đọc.

Ngay bài mở đầu, Mùa, đã cho thấy Hà Hồng Hạnh nhìn thế giới bằng điểm nhìn của tình yêu, tình tự: mùa như đôi tay/ choàng qua vai/ gai gai hơi thở/ tháng tám mưa vắt ngang ngày cũ. Mùa, vốn trừu tượng và vô hình, trở thành cụ thể và sinh động, như một tình nhân, nồng nàn xúc giác, khứu giác, và nưng nức kí ức.

Nói cách khác, trong thơ Hạnh, tình yêu không tồn tại như một hiện tượng thời gian tuyến tính, mà được lưu giữ, phân rã, tái kết bằng nốt hương, và vì thế luôn hiện hữu như một kí ức chuyển hóa. Mùi hương tình yêu ngày cũ là hương của mê đắm: trong mắt anh em nhìn thấy bầu trời/ muôn sao lấp lánh/ vòng tay anh ấm áp/ vồng ngực căng núi đại ngàn; cũng là mùi của tàn khốc: nước mắt lạnh buốt/ em hiểu thế nào là điên/ thế nào là đau đớn.

Như vậy, tình yêu trong tập thơ luôn tồn tại trong sự giằng xé giữa cái đẹp đến ngộp thở và cái đau đến nát lòng, là kí ức luôn thức và chưa bao giờ mất mùi hương, thậm chí khi tan ra, nó vẫn tan theo mùi hương: nước mưa hay nước mắt/ mông lung khúc ca buồn…/ mưa hay em tan ra từng mảnh…/ thoang thoảng mùi hương roi nở muộn/ những sợi tơ mong manh gió thu.

Và trong vô thức, người đàn bà vẫn liên hồi lần theo hơi ấm mùi hương ấy: trong vô thức/ em lần theo mùi hương tìm anh/ dù kiệt cùng tuyệt vọng; em tìm anh như người điên/ vô thức/ mong manh vệt sương/ trên tàng cây mùa cũ; em giữ thói quen ngủ sớm/ trong giấc mơ thơm mùi nhựa cây/ anh là tấm chăn lẩn khuất không nói…/ anh đã ra đi về phía ấy/ hơi ấm ru em đêm đêm.

Đáng nói, Hà Hồng Hạnh không tái hiện tình yêu bằng hình ảnh, mà dùng mùi hương làm chất liệu kiến tạo kí ức. Điều đó tạo ra độ bền dai, độ thấm đượm, độ ám dụ mà những thứ thuộc về thị giác hay thính giác không mang lại được.

Không gian thơ Trần Hạ Vi, từ Lật tung miền kí ức đến Vi đến Phiến hạ, như một lẽ thường tình, có những vết thương vô danh/ và những vết thương có tên gọi, nhưng đáng chú ý ở chỗ là tràn ngập hoan ca tình yêu. Chị “cảm ơn vũ trụ bao dung” mở ra vô vàn cơ duyên để bản thân không ngừng được kết nối tương giao.

Cái yêu đọng thành cái sống và chảy thành cái viết. Yêu nhau trên những vần thơ/ làm tình cùng chữ. Thơ Vi, do vậy, như những cái hôn sâu/ như bản năng cuộc sống.

Có phải chúng ta đang bị tự nhiên lừa/ để kéo dài sự sống. Đây là hai câu thơ của thi sĩ Trương Đăng Dung, dựa trên ý của triết gia vĩ đại người Đức Arthur Schopenhauer. Theo đó, cái gọi là tình yêu đã bị đặt vào tình thế giải thiêng, chất vấn. Con tạo khéo bày trò lừa mị con người, để rồi giống đực và giống cái ngộ tưởng yêu nhau mà đến với nhau, phối trộn cùng nhau, để lại tạo sinh ra những con người, để nhân loài được trì bồi miên viễn.

Vườn xuân. Tranh: Lê Quang Thái
Vườn xuân. Tranh: Lê Quang Thái

Mặc kệ ai giải thiêng, chất vấn tình yêu, thì trái tim những thi sĩ, đặc biệt là nữ thi sĩ, vẫn đinh ninh tin, rằng tình yêu là có thật, rằng tình yêu là tất cả sinh mệnh, là ân điển và tai ách, hạnh phúc và thống khổ, phấn hứng và bất an, đầy tràn và hao rạc…

Sau bã bời sống và yêu, họ đi đến được trạng thái tự cân bằng, nhờ học theo cách của bầu trời: thở vào thở ra tan biến/ hóa em một thanh âm lành (thơ Như Bình); sau những mùa lá rụng/ thấy mình đơn sơ hơn/ sau tháng ngày dài rộng/ tim đau từ tốn hơn (thơ Trần Kim Hoa); tôi yêu cái khoảng cách mơ hồ lọc tôi đến trong veo/ và độc chiếm không gian bình yên tự do dâng hiến (thơ Lê Khánh Mai); chỉ đến khi lòng trống rỗng như mặt ao sau con gió chướng/ tôi mới nghe được tiếng mình vang lên (thơ Hoàng Thuỵ Anh); em dọn mâm cỗ cầu yên/ cởi nút thắt nuộc lạt tự do cho chiếc bánh/ tinh khôi thủy chung khúc bạch/ bảy màu hoa thất khiết tử sinh (thơ Mai Nhung); cứ dịu dàng với nỗi buồn/ anh nhé/ thế gian vui được mấy ngày/ cỏ vẫn xanh từ tiềm thức/ chiếc cầu đưa em sang bờ kia (thơ Hà Hồng Hạnh)…

Mọi thứ đều đáng hoài nghi, riêng tình yêu là bất khả tư nghị. Đi thật khẽ thật sâu vào thi-giới-yêu, khách thơ lại muốn, nói như thi sĩ Đỗ Quang Nghĩa là, một lần nữa tỏ tình cùng người mình đang yêu. Đó cũng là cách để họ làm cho môi mình, nói như thi sĩ Du Tử Lê là, mãi mãi tân hôn.

Vâng, được sống là đặc ân. Và ích dụng thiết thực nhất, “vị nhân sinh” nhất của văn chương đó là góp phần giúp con người tìm thấy niềm vui sống. Cuộc đời trôi đi đơn giản, như xuân đi xuân lại lại. Mùa cần phải xuân/ ta cần phải yêu (thơ Tế Hanh). Hãy biết yêu đời yêu người mà sống. Yêu nhiều, nhiều như… “một chú gấu mùa xuân”