Hồ Triệu Sơn - nhà thơ áo lính

Hồ Thủy Giang 14:49, 31/12/2025

Đọc tập thơ "Mưa bụi" Nhà Xuất bản Hội Nhà văn năm 2011.

Từ năm 2003, bắt đầu rời quân ngũ để nghỉ hưu, Hồ Triệu Sơn tiếp tục "khúc quân hành" bằng con đường thơ ca. Tất nhiên ngay từ thời cắp sách, anh đã là học sinh giỏi văn và có sáng tác chút ít, nhưng thời chiến với bao khó khăn, gian khổ, qua nhiều trường, lớp quân sự trong và ngoài nước cùng những nhiệm vụ quan trọng, chí hướng văn chương của anh tạm thời chìm khuất. Chỉ tới ngày về nghỉ, Hồ Triệu Sơn mới trở lại với niềm đam mê từ thuở hoa niên.

Hai mươi hai năm cầm bút, khởi sự bằng những bài thơ lẻ đăng tải trên tờ Văn nghệ Thái Nguyên, rồi lần lượt xuất bản mấy tập thơ, được kết nạp vào Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, đoạt vài giải thưởng, trong đó có giải Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam cho tập thơ "Mưa bụi", anh đã được xếp vào hàng ngũ các nhà thơ tiêu biểu của tỉnh một cách tự nhiên. Là nói vậy, nhưng với bất kể một nhà thơ nào, dù có nhiều giải, xuất bản nhiều tập, nhưng nếu không có ít nhất đôi ba câu thơ để lại trong lòng độc giả thì cũng đâu có được cái hạnh phúc thật sự của người cầm bút. Với Hồ Triệu Sơn lại khác. Anh đã vượt qua được cái ngưỡng khắc nghiệt ấy của thi ca. Ngay từ khi đọc tập đầu tay (Ngoảnh lại mùa thu) của anh tôi đã có thể điểm ra những câu thơ làm xao xuyến lòng người:

Gió heo may rồi sao em còn quên

Thuở tóc đuôi gà đi nhặt hương sen

Nhí nhảnh trượt chân ngã xuống miền thương nhớ.

(Ngoảnh lại mùa thu)

Hoặc:

Cho tôi lên núi đứng cùng

Với thông hát giữa mênh mông đất trời

Xin đừng đốt nhựa thương tôi

Để hương buồn vận vào người đến sau.

(Viết ở Đà Lạt)

Tất nhiên, những câu, những đoạn thơ trên chưa có gì mới, nhưng theo tôi, nó đã đến với người đọc bằng con đường của trái tim. Ngoài ra, Hồ Triệu Sơn cũng có được những "phần thưởng" hơi đặc biệt trong đời cầm bút. Đó là thơ anh từng được NSƯT Hoàng Thiện Thực chuyển thể sang thơ múa, được trình diễn trong Liên hoan thơ châu Á - Thái Bình Dương tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, và một bài thơ khác được nhạc sĩ Vũ Lực phổ nhạc, trở thành bài hát truyền thống đón khách thập phương tại Nhà Tưởng niệm Bác Hồ ATK Định Hóa. Những thành tích ấy, không phải nhà thơ nào cũng có được.

* * *

Cuối năm 2011, tập “Mưa bụi”, một tập thơ khá chững chạc của anh được trình làng với độ dày trên 100 trang, gồm 45 bài thơ chủ yếu là thơ tự do. Cũng giống như hầu hết các tập thơ khác, "Mưa bụi" rất đa dạng về đề tài, chủ đề, như tình yêu đất và người quê hương (Thái Nguyên, Tình yêu Đà Lạt, Trung du, Sông Châu, Sông Cầu, Sông quê…); về mẹ, cha (Đường của mẹ, Bố gánh gạch thuê); về thiên nhiên tươi đẹp (Tháng Giêng, Tiếng chim hót, Cánh đồng, Kí ức mùa hè, Mưa bụi, Biển chiều, Viết khi hoa anh đào chưa nở…) và đặc biệt là khá nhiều bài thơ mang ý nghĩa chiêm nghiệm, suy ngẫm về mình, về đời (Một người, Em bé đánh giày, Giã bạn, Những liên tường về nỗi nhớ, Rồi mọi thứ cũng vụt qua như gió, Khi biết em không phải là tất cả…). Điều mừng hơn là “Mưa bụi” đã có khá nhiều câu thơ đủ sức neo vào lòng độc giả như: "Đêm giở mình về phía trăng sao” (Đường của mẹ), “Đêm đặc quánh, huyền tích thì trong suốt/ Phía hạt sương âm thầm có tiếng hát Trương Chi” (Sông Cầu), "Giọt mồ hôi rơi nhắc mẹ không buồn" (Sông quê),"Con cá nào quẫy vào giấc mơ người xa xứ" (Sông Châu), "Mình còn được mấy đam mê/ Để đi hết một câu thề bên nhau", "Em không em nữa em ơi/ Tôi không tôi nữa buồn rơi xuống chiều" (Viết khi hoa đào chưa nở)... Những câu, những chữ như vậy không phải là quá hiếm trong "Mưa bụi".           

 Nếu ở "Ngoảnh lại mùa thu" ta thường gặp một Hồ Triệu Sơn với lối viết nặng về hoài niệm, những giãi bày tâm trạng, một trái tim thổn thức bồi hồi với những kí ức, kỉ niệm… thì ở "Mưa bụi" ta lại gặp một Hồ Triệu Sơn trong cách biểu đạt nhiều liên tưởng, giàu suy tư, triết lí. Bên cạnh trái tim đa cảm, còn là độ tĩnh, độ trầm của một lí trí từng trải.

Đơn cử, bài thơ "Bố gánh gạch thuê" anh kể về một người bố 18 năm gánh gạch nuôi con khôn lớn với giấc mơ con được vào đại học nhưng không thành. Hồ Triệu Sơn không diễn đạt tình cảm ấy bằng lòng xót thương, bằng những giọt nước mắt và nỗi ân hận của người con mà là sự hiện diện của những thi ảnh hoàn toàn khác, bằng cách hoán đổi tâm trạng từ con sang bố thật bất ngờ:

…Thế là bố đã không qua được khóa học 18 năm

gồng gánh cuộc đời (…)

Những giọt mồ hôi

18 năm ròng ròng lưng áo bố

hóa thân

trắng xóa

không lời

(Bố gánh gạch thuê)

Người bố ấy không một lời oán trách mà chỉ ngậm ngùi vì mình đã "không qua được khóa học 18 năm gồng gánh cuộc đời" của chính mình - một người bố bình dân, giản dị mà thật lớn lao.

Thường bắt đầu bằng những hiện tượng tưởng như "vặt vãnh" như chuyện người bố gánh gạch thuê, về cái chổi quét nhà, em bé đánh giày, uống nước, một đêm mất ngủ, một giấc mơ… Hồ Triệu Sơn đã nâng lên thành những giá trị nhân văn, những triết lí nhân sinh…

Theo tôi, trong "Mưa bụi" còn có một nét nổi bật nữa là cách tác giả đưa khẩu ngữ vào thơ. Như chúng ta đều biết, một trong những cách tân thơ của thơ đương đại là đưa khẩu ngữ, những tiếng nói đời thường và thơ một cách nhuần nhuyễn, để bạn đọc có thể chấp nhận. Thông thường thì khẩu ngữ đối với thơ luôn là con dao hai lưỡi. Nếu sử dụng sai cách thì thơ sẽ trở nên thô thiển. Vì vậy làm được điều này không dễ. Nhưng trong "Mưa bụi", có thể nói đó là một thành công của Hồ Triệu Sơn. Trong buổi cùng người yêu đi chơi bằng xe đạp trên một quãng đường mưa anh viết như thế này:

Ta không thể nào lên dốc mãi được đâu em

Rồi sẽ đến một ngày xuống dốc

Và biết đâu có lúc

Ta mất phanh trên chặng đường đời

Tình yêu đẹp

Bất ngờ lao xuống vực.

Một câu chuyện rất đời thường và cũng được kể một cách dân dã, như tiếng nói thường ngày nhưng lại chứa đựng một triết lí về tình yêu và hạnh phúc, không chỉ nói về chuyện xe đạp mà nói về lẽ sống ở đời.

Hay bài thơ “Sông Châu” của anh được đăng trên Tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn, cũng có những dòng như vậy:

Bây giờ làng tôi không ra sông tắm nữa

Nước sông ô nhiễm lâu rồi

Bây giờ ai nhớ tắm đêm

Mùa nước trong

Mùa nước đục

Mùa nước sông chảy như nước mắt

Hoài niệm đầm đìa không nguôi.

Trong tập có một bài thơ kể về một em bé đánh giày. Chỉ là tả cái quai đeo của chiếc hộp đánh giày (theo kiểu của văn xuôi) nhưng lại được nhà thơ thổi vào một ý nghĩa mới:

Chiếc hộp gỗ quai bóng lên cần mẫn

Làm bóng lên sang trọng những đôi giày

Những đôi giày dù sang trọng đến đâu

Cũng chỉ ở dưới đất

Còn ý nghĩ vượt khó dù bé nhỏ đến đâu

Vẫn ở trên đầu.

(Em bé đánh giày)

Chúng ta đều biết, đưa hình bóng đời thường vào thơ là một việc rất khó khăn, không mấy người thành công. Cũng chưa dám nói Hồ Triệu Sơn đã làm được triệt để điều này nhưng không thể phủ nhận đó là mặt mạnh của anh.

Đọc thơ Hồ Triệu Sơn, ban đầu tôi có cảm giác không hiểu vì sao là một cây bút gần như suốt cuộc đời trong quân ngũ mà anh lại ít viết về đề tài người lính. Nhưng đọc kĩ tôi nhận thấy là mình đã lầm. Tuy thơ Hồ Triệu Sơn thường không trực tiếp nói về chiến tranh, bom đạn nhưng cái tinh thần người lính, cái chất lính dường như đã ngấm vào từng vi mạch, từng câu, từng chữ, từng hình ảnh của thơ anh. Khi anh viết về quê hương và mẹ, thì cái miền quê ấy, người mẹ quạnh hiu, xót xa trong chờ đợi ấy chính là người mẹ ngóng đợi con ngoài chiến trường. Viết về hậu phương chính là viết về tiền tuyến một cách sâu sắc và cảm động nhất.:

Quê nhà tôi ơi, rừng xanh núi đỏ

Bản làng chênh vênh, ngọn đèn mờ tỏ

Mế ngồi co ro bếp lửa nhà sàn

Ngóng bước tôi về kẽo kẹt cầu thang

(Quê nhà tôi ơi)

Cũng bằng cách thể hiện như vậy, anh viết về nỗi đau của một người mẹ liệt sĩ thật cảm động. Không có hình ảnh trực diện nào của người liệt sĩ mà chỉ trần trụi tiếng gọi trong đau thương:

Đỗ ơi

Trận ác liệt B52 đã khép lại rồi

Sao chưa về với mẹ

Trên bàn thờ im lìm bông huệ trắng.

(Đỗ ơi)

Hồ Triệu Sơn có một bài thơ văn xuôi viết về chiến tranh rất ấn tượng, đó là bài "Cái nồi, ngọn lửa, mẹ và tôi". Cái nồi, biểu tượng của no và đói, thiếu thốn và đủ đầy, hạnh phúc và bất hạnh. Thời chiến tranh cũng có một cái nồi gắn với đời chiến binh đầy gian khổ của anh. Tôi rất thích đoạn 4 của bài thơ này:

… "Còn tôi chưa bao giờ xa được cái nồi và nhớ cái nồi không chịu được. Ngày ở chiến trường, địch cắt đường tiếp tế, đơn vị không có gạo nấu cơm, đi bẻ măng và hái rau rừng, đến khi măng và rau rừng hết nhẵn, tôi phải xuống bếp gõ vào cái nồi kêu lanh canh cho đỡ đói…".

Đoạn thơ ngắn ngủi ấy không chỉ là thơ mà còn giống như một truyện ngắn mini. Có tình huống, có nhân vật, cốt truyện cùng sự phát triển tới cao trào. Đặc biệt là dòng kết thúc đã gửi tới bạn đọc một thông điệp hết sức bất ngờ. Chỉ cần mười chữ "gõ vào cái nồi kêu lanh canh cho đỡ đói" (từ lanh canh thật đắc địa) là đã hình dung hết sự bình tĩnh, vui tươi, lạc quan trong gian khổ của người lính. Những người lính đã coi sự thiếu thốn của cuộc kháng chiến nhẹ như lông hồng.

Ở tập "Mưa bụi", những bài thơ viết về chiến tranh không nhiều. Hình như anh đã dành riêng đề tài này cho một trường ca xuất bản vài năm trước đó - trường ca “Núi rừng bừng sáng”. Đây là một trường ca về đất và người vùng ATK thời kháng chiến chống Pháp ở Định Hóa. Với thể trường ca, chắc chắn sẽ đủ để ngòi bút của Hồ Triệu Sơn tung hoành trên mỗi sự kiện, mỗi đời người, mỗi thân phận. Tuy nhiên, ở trường ca này, cái chất thơ thầm lặng, không đao to búa lớn của anh vẫn bộc lộ rất rõ nét. Viết về chiến tranh mà thơ anh gần như vắng hoe súng đạn. Suốt sáu chục trang sách mà Hồ triệu Sơn chỉ nói về tình người, về nắng, về gió, về lúa, về rừng, về khát vọng, về nỗi đau, về niềm tin của đất và người ATK. Tuy vậy, cái nồng nàn của tình người kháng chiến cũng đã được thu nhỏ một cách khá hiệu quả trong những câu thơ tràn đầy tâm huyết:

Bắt đầu từ quê hương

Bắt đầu từ dáng xanh xao hao gầy của mẹ

Bắt đầu từ ước mơ, khát khao của mẹ

Bắt đầu từ con

Bắt đầu từ thằng cu hon hỏn trong sắc áo chàm

Con nghe được hai tiếng Tỉn Keo từ máu mẹ

Con nghe được hai tiếng Phú Đình từ tim cha.

Qua năm tập thơ cùng những giải thưởng mà Hồ Triệu Sơn đoạt được, ta có thể hoàn toàn tin tưởng anh đang gắng gỏi bước đi trên con đường thơ theo cách của mình. Hồ Triệu Sơn đã hình thành một nền móng vững chắc để anh xây lên một “ngôi nhà riêng”. Những câu, những chữ, những hình ảnh mang yếu tố hiện đại rải rác đây đó trong tập chính là những tín hiệu dự báo cho một giọng điệu, một đặc điểm thơ của anh sau này. Tôi được biết, có một nhà thơ uy tín khi đánh giá về thơ Hồ Triệu Sơn đã nhận định: “Hồ Triệu Sơn là một cây bút biết xuất phát từ thơ truyền thống để đến với thơ hiện đại”. Tôi hoàn toàn đồng cảm với nhận định ấy.

Sẽ có người nói, Hồ Triệu Sơn từ ngày còn trẻ đã cầm súng, rồi lại học đại học quân sự, chỉ biết đến súng đạn chứ hiểu gì về các lí thuyết văn chương hiện đại. Đúng vậy, nhưng đừng quên rằng, trong văn chương nghệ thuật, sự hoà hợp, bắt nhịp tự nhiên của bản năng, của vô thức, có thể chỉ là gián tiếp, nhưng nhiều khi lại chính là những yếu tố để thành công. Văn chương vốn đã sẵn có những cuộc “giao duyên” như thế.

Với những gì đạt được, ta hoàn toàn có thể tin rằng, Hồ Triệu Sơn là một nhà thơ có vị trí ở địa phương.

Nhà thơ Hồ Triệu Sơn
Nhà thơ Hồ Triệu Sơn

HÀ THƠ HỒ TRIỆU SƠN

- Tên thường dùng: Hà Thanh Vị

- Sinh Quán: Văn Bút, Trắc Văn, Ninh Bình

- Nguyên Đại tá, Trưởng phòng 2 Quân khu 1

- Tốt nghiệp Học viện Khoa học quân sự cấp cao QĐND Việt Nam

- Hội viên Hội VHNT tỉnh Thái Nguyên

Tác phẩm:

- Ngoảnh lại mùa thu (thơ), Hội VHNT Thái Nguyên, năm 2006

- Núi rừng bừng sáng (trường ca), Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên năm 2008

- Mưa bụi (thơ), Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, năm 2011

- Những liên tưởng bên tôi (thơ), Nhà Xuất bản Thanh niên, năm 2016

- Mở mắt (thơ), Nhà xuất bản Hội Nhà văn, năm 2025,  

Giải thưởng:

- Giải Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam

- Giải 5 năm VHNT UBND tỉnh Thái Nguyên