Cây búng báng tuổi thơ tôi

Trần Biến 20:26, 23/01/2026

Nhiều năm đã trôi qua, nhưng cứ vào dịp cuối năm, khi từng cơn gió heo may tràn về, nhà nhà nhộn nhịp chuẩn bị sắm Tết với bao nhiêu đồ ăn ngon, vật lạ, tôi lại bồi hồi nhớ về những năm tháng đói nghèo của gia đình, nhớ bà nội trong một nỗi buồn thương không nói lên lời. Ước gì bà nội vẫn còn sống để tôi cho bà thưởng thức những món ăn mà ngày xưa không bao giờ bà biết đến.

 

Bản tôi ngày ấy, nhà ai cũng thiếu thốn, nghèo đói. Đất quê tôi quanh năm trông chờ vào nước mưa của trời nên chỉ làm được vụ mùa. Tới mùa hanh, cỏ còn chết cháy khô nên chẳng trồng trọt được gì nên ăn. Người bản tôi đói quanh năm.

Tháng giáp Tết và tháng giáp hạt cả bản rủ nhau vác rìu, vác thuổng kéo nhau lên rừng tìm dây củ mài và chặt hạ cây búng báng mang về mài bột. Đất quê tôi hợp với cây búng báng nên khắp rừng đâu đâu cũng mọc loài cây này.

Búng báng chỉ mọc ở núi đá, trông hơi giống cây cau vua, khi trưởng thành cao đến cả chục mét, to cả vòng ôm người lớn, vỏ cây dày, cứng như cây dừa ở vùng xuôi. Tuổi cây phải tầm trên mười năm thân mới mập mạp. Mỗi bẹ lá to như cây chuối hột, sức thanh niên trai tráng không vác nổi. Trên mỗi bẹ mọc ra những nhánh như lá móc nhưng thưa hơn. Những cuống lá trên cái bẹ nặng nề ấy lại xòe ra những chùm lá xanh biếc hình nan quạt, dài đến năm, sáu mét. Vì có vóc dáng to lớn như vậy nên người đi rừng nhìn từ xa đã biết là cây búng báng.

Mùa xuân đến, búng báng cũng đua nhau trổ hoa như nhiều loài cây khác. Những buồng hoa màu trắng ngà phơn phớt vàng, trĩu xuống như buồng hoa cọ, thu hút ong, bướm bay lượn xung quanh như mùa hội, kéo dài cả tháng trời.

Qua mùa xuân, hoa rụng dần xuống đất, biến thành thức ăn cho giun dế và các loại côn trùng. Lúc này, những chùm quả búng báng trông như những chùm cau non bắt đầu lúc lỉu chen nhau đánh đu trên các bẹ lá. Mỗi cây có tới vài tạ quả. Khi bước sang mùa thu, những buồng búng báng chín đỏ khắp rừng, thu hút muôn loài chim chóc đến ăn quả, những hạt búng báng vô tình rơi xuống, lại mọc lên trăm ngàn cây búng báng non.

Cây búng báng khổng lồ như vậy nên chỉ có những người đàn ông có sức khỏe mới chặt hạ được, và chỉ những người có kinh nghiệm đi rừng mới biết chọn cây búng báng có nhiều bột.

Búng báng thường thu hoạch vào cuối mùa đông, sau Tết. Đó là thời gian cây tích đủ dưỡng chất trong thân để chuẩn bị sang xuân nảy chồi sau giấc dài ngủ đông. Lúc này cây có nhiều bột nhất.

Đi rừng chặt hạ búng báng phải đi theo nhóm vào tận núi xa, rừng sâu. Khi kiếm được cây tốt cả nhóm cùng nhau chặt, rồi bổ, chẻ ra từng mảnh vác về nhà mài bột. Ngày ấy, với dụng cụ thủ công nên mài được bột báng là cả một công đoạn công phu lắm.

Tôi nhớ, cả bản tôi chỉ có vài nhà khá giả mua được cái cưa mài, cả bản thay nhau mượn để làm, nên mùa làm bột rất bận rộn. Để thực thi công việc, gia đình nào cũng phải làm một cái giá thật chắc bằng gỗ hoặc bằng tre để buộc khúc búng báng cố định. Phía dưới đặt cái loỏng chứa nước để hứng xơ. Hai người đứng hai bên ra sức liên tục kéo mài cho tới khi cả khúc búng báng mòn đến tận lớp vỏ cứng mới thôi.

Đến công đoạn lọc bột phải thục tay vào lớp xơ, lấy hết sức vừa khoắng, vừa vò, vừa vắt để kiếm chút bột hiếm hoi lẫn trong xơ cây. Xong xuôi, đổ bột ra mẹt phơi khô, dùng làm lương thực dự trữ quanh năm.

Cách nấu bột búng báng rất đơn giản. Bột hòa vào nước cùng ít muối bắc lên bếp củi. Khi nấu phải quấy luôn tay. Đến khi bột chín, chuyển dần sang màu trắng đục rồi đặc quánh lại là được.

Chế biến thì công phu nhưng bột búng báng là một món ăn rất khó nuốt. Vậy mà ngày ấy, cả vùng núi quê tôi không nhà nào không làm bột búng báng để chống đói.

Bà và mẹ tôi thường quấy búng báng đặc quánh để no lâu hơn nên lại càng khó ăn. Đứa háu đói như tôi cũng chỉ dài cổ nuốt cố được nửa bát là cùng. Mà lạ sao, dân quê tôi vẫn sống được nhờ cái thứ bột bầy nhầy, nhạt nhẽo ấy. Nghe bà kể lại thì gần như cả đời bà sống bằng bột búng báng.

Từ cái bản nhỏ, lớp trẻ chúng tôi lớn dần lên. Nhiều đứa thoát li, đi công tác. Sau này, có những người trở thành sĩ quan bộ đội, công an, người làm cán bộ, giáo viên, bác sĩ… tung bay khắp bốn phương trời đất nước, nhưng chắc không ai quên đã có một thời mình từng lớn lên và trưởng thành nhờ cây búng báng, một loại thức ăn không mấy ngọt ngào nhưng đã nâng đỡ ta qua một thời gian nan, nghèo đói để nên người hôm nay.

Bậy giờ, mỗi lần trở lại quê hương, tôi thường ngước nhìn về phía xa, thấp thoáng giữa ngàn xanh, nơi có một loài cây của tuổi thơ đầy thương mến trong một kí ức ngọt ngào.