Ngày 28/1/1941 (mùng hai Tết Tân Tỵ), mảnh đất địa đầu Tổ quốc (Pác Bó, Trường Hà, Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/Bác về im lặng con chim hót/Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ… đón chào người anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đặt bước chân đầu tiên lên đất mẹ sau “ba mươi năm ấy, chân không nghỉ” tìm đường cứu nước, cứu dân...
![]() |
| Bác Hồ về nước. Tranh: Trịnh Phòng |
Hình ảnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đặt bước chân đầu tiên lên đất mẹ tại cột mốc 108 đã được ghi lại, dựng lại trong nhiều hồi ký cách mạng, những bức tranh, nhiều áng thơ văn nổi tiếng… Trong đó đặc biệt nhất là bức tranh sơn dầu của họa sĩ Trịnh Phòng có tên "Bác Hồ về nước" vẽ năm 1969. Giờ trở thành bảo vật, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
Đồng chí Lê Quảng Ba đã ghi lại thời khắc đoàn đặt chân lên cột mốc 108: “Trưa mồng hai Tết, chúng tôi cùng với Bác đi về nước. Cùng đi với Bác có tôi, đồng chí Phùng Chí Kiên, đồng chí Lộc, đồng chí Thế An, đồng chí Cáp… Khi đi, tôi đi trước, một mặt để chào hỏi những người ở đây, đồng thời để quan sát tình hình. Các đồng chí khác đi sau. Khi đi ở trên đất Trung Quốc chúng tôi chỉ nói chuyện bằng tiếng Quảng Đông, nhưng không được chuyện trò rôm rả. Nhưng khi đi qua con đường cột mốc rồi từ đó xuống Pác Bó thì mọi người nói chuyện thật rôm rả, vì ở đây anh em có thể nói chuyện thoải mái bằng tiếng Kinh. Qua biên giới, đồng chí Phùng Chí Kiên vượt lên trước tới chỗ cột mốc đọc oang oang những chữ khắc trên cột mốc. Khi tôi quay ra, tôi thấy Bác đứng ở phía ngoài chấm chấm cái khăn mặt lên mắt, lên người”.
![]() |
| Làng Cốc Xâu - Quê đồng chí Đào Thế An |
Và tất cả những hình ảnh, những cảm xúc, tinh thần của những chiến sĩ cách mạng trong giờ phút thiêng liêng đó đã được họa sĩ hiển hiện trên bức tranh Bác Hồ về nước - Chân thật, xúc động và lan tỏa.
Họa sĩ Trịnh Phòng sinh tại Hà Nội (1-1922) nguyên quán: Xuân Thượng, Xuân Trường, tỉnh Nam Định (cũ). Tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Việt Nam (tại Việt Bắc); Hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, giảng viên cao cấp Trường Mỹ thuật Việt Nam.
Ông đã hai lần lên Pác Bó “thực tế sáng tác” tìm tư liệu, suy tưởng… Ông kể lại: “Phần tôi, tôi tìm hiểu ngày Bác về có những ai đi cùng? Có ai bảo vệ không? Hành lý của Bác nhiều không? Có mấy người đi cùng, cách mặc quần áo?... Tôi nghiên cứu kỹ, chọn màu sắc tiêu biểu cần thiết, tìm mua một bộ quần áo chàm màu (theo tư liệu, khi Bác về nước Bác đã mặc quần áo chàm địa phương) tôi xin được ảnh chân dung đồng chí Cáp, đồng chí Phùng Chí Kiên và được nghe tả lại nét mặt, tầm vóc của mấy cán bộ về theo Bác, kiểu ăn mặc thế nào?.... tôi cũng ký họa va li đựng hành trang của bác lưu trữ ở bảo tàng, ký họa máy chữ kiểu máy chữ của Bác chuẩn bị cho đề tài tiếp theo: Bác làm việc ở Pác Bó.
Tôi về phác thảo kỹ kích thước to bằng thật thể hiện: Vào sáng đầu xuân trời hửng sáng, hoa đào nở, cây cỏ xanh tươi Bác Hồ cùng đoàn cán bộ tháp tùng có các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, đồng chí Thọ, đồng chí Vy.
Ý tứ bức tranh: Bác Hồ chỉ tay về Pác Bó như ý muốn nói: “Nơi đây sẽ là căn cứ địa cách mạng Việt Nam” với phong thái ung dung, tự tin, cương nghị cán bộ theo Bác hòa vui tiếp nhận. Người tay chống gậy dò đường, cán bộ Phùng Chí Kiên vận quân phục đi đầu dẫn đường, đồng chí vai đeo túi dết, Bác Hồ có khăn mặt vắt vai… Tôi gửi phác thảo vào Phủ Chủ tịch xin ý kiến của Bác Hồ. Bác bận, Bác chuyển tới đồng chí Trường Chinh trả lời thay Bác “Nên bố trí đồng chí Lê Quảng Ba gần Bác vì đồng chí có nhiệm vụ bảo vệ còn đồng chí Cáp nên sắp xếp đi sau cùng, đồng chí biết về cây thuốc, bận tìm cây thuốc để phòng chữa bệnh cho Bác, bố trí đồng chí Phùng Chí Kiên đi đầu là đúng vì đồng chí thông thạo đường lối”.
Tôi hoàn thành tác phẩm bằng chất liệu sơn dầu, Hội Mỹ thuật Việt Nam nhận xét đánh giá tốt chất lượng tác phẩm. Nhà thơ Hoàng Trung Thông xem tranh đã có thơ cho tranh:
Đây rồi đất nước Việt Nam
Thanh thanh dòng suối xanh lam núi rừng
Thắm tươi hoa nở đón mừng
Bác về như cả mùa xuân cùng về.
Những nhân vật lịch sử trong tranh
1- Đồng chí Phùng Chí Kiên (người vác súng đội mũ mềm, vai đeo túi dết đi đầu)
Ông tên thật là Nguyễn Vĩ sinh năm 1901 tại làng Mỹ Quan, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu (cũ), tỉnh Nghệ An. Năm 1925 sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện cách mạng do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố, năm 1931 sang Liên Xô theo học Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, năm 1935 dự Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương phụ trách công tác Đảng ở hải ngoại.
Ngày 28/01/1941 về nước cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ tám tại Khuổi Nặm, được cử về Bắc Sơn lãnh đạo cứu quốc quân. Dưới sự lãnh đạo của ông, Cứu quốc quân được củng cố, tổ chức nhiều cuộc chống càn bao vây của địch thắng lợi, nhưng trước lực lượng đông gấp bội của địch, tháng 8-1941 Cứu quốc quân tiến hành phá vây rút về Cao Bằng, đến Khau Pàn, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn (cũ), ông đã anh dũng chốt chặn, bảo vệ đồng đội thoát vòng vây, anh dũng hy sinh. Năm 1947 ông đã được truy phong hàm cấp tướng.
2- Đồng chí Lê Quảng Ba (người đứng sau Bác Hồ vai khoác bao ruột tượng)
Ông tên là Đàm Văn Mông, sinh ngày 21/4/1915, tại bản Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tham gia cách mạng từ năm 1931, năm 1940 có công đưa 40 thanh niên Cao Bằng đang học quân sự tại Tịnh Tây (Trung Quốc) về làng Nặm Quang dự lớp huấn luyện quân sự rồi về nước cùng Bác Hồ.
Tại Pác Bó ông là người bảo vệ, lo hậu cần cho Bác Hồ và các đồng chí cách mạng. Từ sau ngày cách mạng thành công (1945) ông vào quân đội lần lượt đảm nhiệm những chức vụ quan trọng: Chỉ huy trưởng Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, Tư lệnh trưởng Quân khu Việt Bắc, Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 316.
Ông được phong hàm Thiếu tướng năm 1958. Năm 1960 ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III, đại biểu quốc hội từ khóa II đến khóa VI.
3- Đồng chí Đào Thế An (Người cầm gậy đeo ba lô sau lưng)
Ông có tên là Đào Mạnh Vy sinh ngày 19/8/1916 tại làng Cốc Xâu, Sóc Giang, Hà Quảng. Năm 1940 sang Tịnh Tây, năm 1941 về nước cùng Bác Hồ, năm 1942 là đội viên Đội Du kích Pác Bó, bảo vệ cơ quan cách mạng. Năm 1944, ông là đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân; Trung đội phó Trung đội 3 (Đồng chí Đàm Quang Trung là Trung đội trưởng). Năm 1945 tham gia Bộ đội Nam tiến. Năm 1950 là huyện đội trưởng huyện đội Trấn Biên (Trà Lĩnh). Năm 1951 mất tại quê nhà.
4- Đồng chí Hoàng Văn Lộc (người đội mũ mềm, vai gánh hành lý)
Ông sinh năm 1900 tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình (cũ), có tên là Nguyễn Văn Ty, năm 1928 làm bảo vệ cho lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Thầu Chín) ở Xiêm (Thái Lan). Tháng 5 năm 1940 gặp lại Bác Hồ ở Vân Nam (Trung Quốc) rồi cùng Người về Pác Bó tham gia bảo vệ Bác. Là người “lo cơm nước”.
Kháng chiến chống Pháp ông về An toàn khu Thái Nguyên tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ. Ông mất ngày 3/6/1948 tại Khuôn Tát, dưới chân núi Hồng. Bác Hồ đã nói về Hoàng Văn Lộc “Chú Lộc, trong lúc khó khăn gian khổ làm việc không chút nề hà đến lúc nước nhà độc lập cũng không mảy may đòi hưởng thụ”.
5- Đồng chí Đặng Văn Cáp (người đi sau cùng)
Ông tên là Đặng Văn Linh sinh năm 1894 tại Can Lộc, Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình Nho học yêu nước, nhiều đời làm nghề bốc thuốc, trị bệnh cứu người. Năm 1928 gặp Thầu Chín (Nguyễn Ái Quốc) ở Xiêm. Tháng 5 năm 1940 gặp lại Bác Hồ ở Vân Nam rồi theo Người về nước.
Ở Pác Bó, ông được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho Bác, in ấn tài liệu và giao dịch, vận động bà con giúp đỡ lương thực. Cách mạng Tháng Tám thành công ông về Hà Nội chăm sóc sức khỏe cho Bác Hồ, năm 1951 ông phụ trách Trường Thiếu sinh quân tại Quế Lâm. Năm 1957 về nước làm việc ở tỉnh Cao Bằng. Năm 1960 làm Chủ tịch Hội Y học dân tộc Việt Nam, ông là Đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III, mất ngày 22/02/1984, an táng tại nghĩa trang Mai Dịch.
Bức tranh sơn dầu "Bác Hồ về nước" của họa sĩ Trịnh Phòng là một bảo vật vô giá, trước năm 1979 được trưng bày tại Bảo tàng Pác Bó, năm 1979 tranh bị mất. Tất cả những bức tranh, phù điêu ở nhà trưng bày Pác Bó đều là mô phỏng.









Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin