Bính Dần (1926), tháng Tư - Ngày đẹp. Phja Bjoóc ngát hương. Gió ù òa thổi. Mây moóc hì hà - Một sinh linh chào đời. Bố Trời, mẹ Hoa lấy chữ Hân đặt làm tên: Nông Đình Hân.
![]() |
| Nhà thơ Nông Viết Toại với ấn phẩm Văn nghệ Thái Nguyên. Ảnh: Kim Kim |
Nông Đình Hân sinh ra và lớn lên trong gió núi, mây ngàn - Bản Nà Coọt, Cốc Đán - Ngân Sơn - Bắc Kạn (nay là xã Ngân Sơn, tỉnh Thái Nguyên). Bố ông là thầy Tào có danh của một vùng nên ông được học chữ (Chữ Hán và chữ Quốc ngữ) từ nhỏ. Nhờ chăm chỉ và sáng dạ nên vốn chữ nghĩa đầy dần, đủ để làm thầy Tào nhưng ông không đi làm thầy Tào mà tham gia Việt Minh, làm thơ, làm văn phục vụ cách mạng.
Tháng 4 năm 1942 (Nhâm Ngọ), Nông Đình Hân được kết nạp vào Hội Việt Minh khi tròn 16 tuổi. Năm 1945, phụ trách Việt Minh một xã, tham gia đội tuyên truyền kháng Nhật ở huyện. Công tác tuyên truyền kháng Nhật đã khơi dậy và dẫn dắt người thanh niên yêu văn thơ, văn nghệ đặt (sáng tác) những bài phong sư, bài sli gửi gắm niềm tâm sự với người bạn gái khi chia tay đi làm cách mạng, tới những bài thơ động viên thanh niên tòng quân, động viên nhân dân tham gia sửa chữa cầu đường…
Những bài thơ Tày (không dịch ra tiếng Kinh) được nhiều người đọc, nhiều người nhớ… Như là những bài dân ca!. Sau này, được in trong tập Ngoẳc Đếnh (Ngoảnh lại) - Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc - 2006. Trước đó ông đã lần lượt xuất bản các tập thơ: “Slại Slóa Vít pây- (Điều xấu bỏ đi!); Kin ngày, phuối khát - (Ăn ngay, nói thẳng) - 1956; Đét chang nâư - Nắng ban trưa - 1976.
Nông Đình Hân nhập vào thế giới văn thơ với tâm thế dùng văn, dùng thơ phục vụ nhiệm vụ chính trị. Ông nhủ lòng: “Cả đời làm công tác tuyên truyền Văn hóa, Văn nghệ thơ văn viết ra mục đích chính để phục vụ chính trị, có câu nào, dòng nào tồn tại với thời gian thì đó là sự may mắn”. Với tâm thế và trách nhiệm ấy, ông lấy bút danh là Nông Viết Toại. Và cái tên ấy theo ông, lưu danh ông mãi mãi.
Nhà Nghiên cứu Văn hóa - Văn nghệ Vương Hùng (là bạn văn đã cùng dự trại sáng tác của Hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Bá năm 1957 với Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Thị Ngọc Tú…) đã nhiều ngẫm ngợi về tên gọi ấy: “Nông Đình Hân lấy bút danh là Nông Viết Toại, sau thành tên gọi Nông Viết Toại. Tên ấy ông đã nghĩ chín lắm. Cái tên trở nên ý nguyện cố gắng trọn đời người cầm bút. Viết là nói, là kể. Toại là bằng lòng, an tâm, vừa ý. Thật đúng vậy. Thơ của ông viết làm an lòng, vừa ý với người Tày ở quê hương và mọi miền. Bạn đọc thấy nhớ, thấy mong và chờ đợi. Lõi càng già càng cứng cáp. Không ngại biển rộng, sông dài. Tâm càng tĩnh viết nên những vần thơ mới”.
Nói đến sự nghiệp Văn hóa - Văn nghệ của Nông Viết Toại trước hết phải nói đến những thành tựu Thơ (tiếng Tày) của ông. Thơ Tày Nông Viết Toại mang khí vị Thơ cổ, nhất là ở thể thơ thất ngôn truyền thống có nội dung tươi mới, trong sáng, lạc quan. Dùng từ nhiều hình ảnh, nhiều so sánh, tượng trưng, nhiều bài thơ của ông vì thế được nhiều người yêu quý, có sức sống dài lâu mà trở thành bài dân ca… Cổ! (điều mà ông cho là may mắn). Lập Xuân là một bài thơ như vậy.
Lập Xuân
Lập xuân mà nghìn heng queng quý
Đông pù phông phú phí bjoóc bâư
Tha chiếu pây tỷ hâư củng quảng
Bjoóc mặn phông, nả táng pền khao!.
Queng quí roọng noọng slao má bắp
Boong chài hưa căm cuốc, căm bai
Tong chinh hắp cằn phai rừ rủa
Pung nà au nặm khuổi đang đeo.
Phạ kheo vằn vằn kheo kheo ón
Phua cần hâư chướng chắp thây phưa
Phân tốc lồng mà hưa noọng đuổi
Thâng mủa tan noọng cỏi mà hưa.(*)
Bài thơ ngắn (12 câu), Nông Viết Toại viết năm 1955 (lúc ông 29 tuổi), khi đó ông là đội trưởng Đội Văn công Việt Bắc (Tiền thân đội Văn công Khu tự trị Việt Bắc - Nhạc sĩ Đỗ Minh, tác giả bài hát Chào mừng Đảng lao động Việt Nam; Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc, tác giả bài hát Tiếng đàn bầu là đội phó). Ông tự giao nhiệm vụ chính trị cho mình bằng việc đặt lời cho bài Then để biểu diễn trong lễ Kỷ niệm thành lập Khu tự trị Việt Bắc! Và bài Lập Xuân được đón nhận nồng nhiệt và may mắn trường tồn.
Cảnh sắc vào mùa, tiết Lập xuân được vẽ nên tạo không gian rộng mở, lòng người phơi phới với những từ láy: “Đông pù phông phú phí bjoóc bâư/Tha chiếu pây tỷ hâư củng quảng”. Và đặc biệt là “Phạ kheo vằn vằn kheo kheo ón”. - 3 chữ Kheo (xanh) trong câu thơ 7 chữ mà không lặp, không rối. Gợi câu thơ Nguyễn Du “Cỏ non xanh rợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.
Về nội dung, nhà thơ làm đậm lên khung cảnh ngày mùa, tập tục đổi công: “Phân tốc lồng mà hưa noọng đuổi/Thâng mủa tan noọng cỏi mà hưa” (Mưa xuống về giúp em với nhé/ Đến mùa gặt em sẽ trả công). Được gợi từ câu dân ca Tày: “Thâng mùa lẻ hết rẩy hử lai/Sle noọng đảy sắc lai mà chỏi” (“Đến mùa anh làm rẫy thật nhiều/ Để em được đến nơi làm giúp”).
Nghệ thuật thơ Tày Nông Viết Toại thấm đậm cảnh ngụ tình với lối dùng từ lấp láy rất đắc địa (Chắp xặp, núc ních, jiắc jooi, ngản ngạc, Mjập miảng, nhào nhào, loát loát…). Và đặc sắc riêng có của thơ Tày Nông Viết Toại đậm chất Uymua (hài hước). Nhiều bài thơ in trong Ngoẳc Đếnh như các bài Tốc khóa; Liển Lỏ; Cừn lả; Slư tha; Dự hòm; Pay dương bạn cáu… Là những tiếng cười trào lộng.
Pậu hết thơ, lầu củng hết thơ
Kèng thùng khoẹt khoẹt bấu têm bơ
Lẹo khẩu lẹo tằng thình lộn khẩu
Đỉu mà hung lộn kỷ vần thơ
(Thời sơ tán)
(Người làm thơ, ta cũng làm thơ/ Nghiêng thùng khoẹt khoẹt chẳng đầy bơ/ Hết gạo, hết cả phần độn gạo/ Bực lên nấu lẫn mấy vần thơ!).
Chất Uymua trong thơ Nông Viết Toại hẳn nhiên có từ bản tính Thơ của ông được ảnh hưởng từ nhà thơ Hoàng Đức Hậu (Quê Lam Sơn, Hòa An, Cao Bằng) mà Nông Viết Toại luôn gọi là Slấy Hậu (Thầy Hậu), thời Slấy Hậu đến Cốc Đán dạy học.
Trò Toại gặp đồ Hậu, bản tính hài hước, trào lộng được khơi dậy, nuôi dưỡng, phát triển và hiển hiện trong những vần thơ Nông Viết Toại sau này. “Nông Viết Toại học chữ với thầy Hoàng Đức Hậu. Trò Toại sáng dạ, thông minh, bắt được hồn thơ thầy mới mở rộng, phát triển thể lưu thủy. Thể cổ phong đã linh hoạt. Thể lưu bút cũng thành thể thơ Tày” (Vương Hùng).
Nhà thơ Nông Viết Toại có người anh trai ruột là nhà thơ Nông Quốc Chấn nổi tiếng “Tôi luôn luôn nhận được sự chăm nom, giúp đỡ của anh Chấn. Từ công tác quản lý ở cơ quan đến việc học tập và cả việc làm thơ, viết văn tiếng Tày. Anh đều không bỏ sót mặt nào. Anh lại ít khi giảng giải dài dòng, chỉ thường nêu vấn đề mà tôi đang khúc mắc, không vui. Rồi anh gợi ý phương pháp, biện pháp để tự suy nghĩ, đấu tranh” (Truyện của nhà).
Từ một chút Truyện nhà có thể nảy ra một đánh giá, một nhận định: Thơ Tày Nông Viết Toại bị ảnh hưởng, bị “Cớm bóng” bởi thơ Nông Quốc Chấn và không thể cao hơn được!?. Không!. Thơ Tày Nông Quốc Chấn là đỉnh và thơ Tày Nông Viết Toại cũng đạt đỉnh - Đỉnh ở một hình thái khác, chất lượng khác, đặc sắc khác!. Đó là nhận định, đánh giá khi đọc thơ Tày Nông Viết Toại. Không phải để so sánh, định vị mà là khoa học, là thực tế!.
Ấy là nói về Thơ. Trong địa hạt Văn xuôi Nông Viết Toại cũng sớm có những thành tựu. Ở trại viết Quảng Bá của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957, Nông Viết Toại và Nông Minh Châu cùng dự. Nông Minh Châu viết tác phẩm Muối Lên Rừng (Cưa Khửn Đông). Nông Viết Toại viết Đoạn đường ngoặt (Boỏng tàng tập éo) - Đó là tác phẩm văn xuôi trữ tình mà chất dân tộc được miêu tả, dựng lên thật đặc sắc từ lời ăn, tiếng nói, lối nghĩ, cách ứng xử.
Đọc Boỏng tàng tập éo thấy hiện lên một bản Tày đoàn kết theo Đảng đánh Tây, đuổi Nhật qua nhiều hình ảnh, nhiều sắc độ và nhiều cảm xúc của một cây bút Văn xuôi Tày dồi dào năng lực. Tiếp theo thành công Boỏng tàng tập éo, Nông Viết Toại viết nhiều truyện Tày như Hăn phi, Cái pựt, Ngần muộc, Chài vệ quốc đoàn… Được in thành sách!.
Với “số vốn” (sách) đó, năm 1958, ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Ông kể giọng rất Uymua: “Uyên ạ, mình vào Hội năm 1958 cùng các nhà văn Hoàng Hạc, nhà thơ Cầm Biêu… Vậy mà năm 1985 ông Chính Hữu nhắc mình viết đơn xin vào Hội!”.
Muối lên rừng của Nông Minh Châu ghi thể loại tiểu thuyết, còn Boỏng tàng tập éo và những tác phẩm của Nông Viết Toại xuất bản cùng thời ghi là truyện ngắn, truyện vừa nên không có sức nặng, không “nổi” bằng tiểu thuyết đã hướng các nhà lý luận phê bình “định vị”: Nhà văn Nông Minh Châu là nhà văn người Tày đầu tiên viết Văn xuôi bằng tiếng Tày; là người đặt nền móng cho Văn xuôi Tày phát triển (đó chỉ là nhận định về lịch sử phát triển Văn học dân tộc Tày). Thực ra phải là: Nhà văn Nông Minh Châu, nhà văn Nông Viết Toại là những nhà văn đặt nền móng cho sự phát triển cho Văn xuôi viết bằng tiếng Tày!.
Trong địa hạt Văn xuôi, Nông Viết Toại còn có những thành công đáng kể, ông là người viết nên những cuốn hồi ký, những cuốn Lịch sử địa phương rất giàu chất văn. Thể hiện rõ trong các cuốn Con đường Nam tiến, Lịch sử Đảng bộ xã Cốc Đán… Với mạch văn chính xác, trung thực, sinh động! Thật là “Ngôn tri bất văn, truyền chi bất viễn” (Lời nói không có Văn không truyền được đi xa!).
Một phần không thể thiếu trong công tác xây dựng và phát triển Văn hóa - Văn nghệ mà nhà thơ Nông Viết Toại là người cán bộ của Đảng “Cả đời làm công tác tuyên truyền văn nghệ”. Ông đã là người cán bộ tận tâm, tận hiến: Năm 1947 - 1951 là Phó Bí thư, Bí thư Huyện ủy Ngân Sơn và Na Rì. Năm 1952 - 1966 Đội trưởng Đội Văn công Bắc Kạn, Trưởng đoàn Văn công Khu tự trị Việt Bắc năm 1977 - 1978 - Giám đốc Bảo tàng Văn hóa các dân tộc… “ (Bản ghi trong cuốn NHÀ VĂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI - Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam - 2010).
Dõi theo bước đường công tác Văn hóa - Nghệ thuật của nhà thơ Nông Viết Toại ta thấy những đóng góp được ghi nhận của ông. Đoàn Văn công Khu tự trị Việt Bắc do ông làm trưởng đoàn đầu tiên là Đoàn Văn công có vị trí cao trong hệ thống các Đoàn Văn công của cả nước mang bản sắc đậm nét.
Những sáng tác của ông trong thời kỳ ông làm trưởng đoàn như các vở kịch, các bài hát Then, các màn diễn xướng… Vẫn còn được nhắc nhớ, truyền lại điều mà ông nói: “Đó là sự may mắn”. Bảo tàng Văn hóa các dân tộc (đặt tại Thái Nguyên) mà ông là người đặt nền móng xây dựng nay vẫn là một Bảo tàng lớn, quan trọng của cả nước.
![]() |
||
|
Là người yêu, quý di sản văn hóa dân tộc. Trong thời gian ông công tác tại Sở Văn hóa Khu tự trị Việt Bắc, Hội Văn nghệ Việt Bắc ông đã dày công sưu tầm, biên dịch, chỉnh lý các tác phẩm Văn học - Nghệ thuật Tày cổ và xuất bản (Nam Kim - Thị Đan).
Ông cũng cho sưu tầm, thu thập những cuốn sách cổ, chọn lọc, sắp xếp, giữ lại những cuốn sách có giá trị. Ông đã tin tưởng gửi gắm cho tôi nhiều bản văn chữ Nôm Tày, in trên giấy bản mà ông đem về Bản Áng (Bắc Kạn) để tôi nghiên cứu. Tôi cảm kích cái tình Văn ấy của ông.
Vùng đất Cốc Đán - Pjhia Bjoóc bốn mùa ngát hương là một vùng đất Văn. Ở đó đã sinh ra 3 nhà thơ, nhà văn nổi tiếng: Nhà thơ Nông Quốc Chấn, nhà văn Nông Minh Châu, nhà thơ Nông Viết Toại. “Các cụ ở địa phương thường khen là nhà có mộ tổ ở Thôm Tư, Thượng Quan phía trước có mấy ngọn núi đá nhọn hoắt nên con cháu nhà có thần bút”. Lời luận phong thủy về vùng đất Văn đã sinh ra Tam Kiệt có ứng nghiệm phần nào!.
Bính Ngọ (2026), nhà thơ Nông Viết Toại đã đi trọn một trăm năm cuộc đời. Một cuộc đời tận dâng, tận hiến cho sự nghiệp Văn học - Nghệ thuật của các dân tộc thiểu số Việt Nam và của nền Văn học nước nhà. Những thành tựu văn chương của ông luôn được ghi nhận với sự trân quý là Hồn Tày trên đỉnh cao Phja Bjoóc mãi tỏa sáng - Ngát hương.
(*) Lập xuân nghe tiếng chim Queng quý
Đồi núi nở phú phí lá hoa
Mắt trông xa đâu đâu cũng rộng
Hoa mận trắng bung nở trước sàn.
Queng quý gọi em gái ngâm bắp
Trai làng giúp cầm cuốc, cầm cào
Lá dong chặn nước vào ruộng cuối
Đám ruộng đầy nước suối. Neo đơn.
Trời xanh ngày ngày xanh xanh thắm
Chồng người lo chăm chắm cày bừa
Mưa xuống về giúp em với nhé
Đến mùa gặt em sẽ trả công.
Hoàng Quảng Uyên (dịch)










Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin