Thương đôi vai gầy của mẹ

Lê Thị Xuân 10:59, 14/03/2026

Ngày còn nhỏ, tôi thường kì lưng giúp mẹ mỗi lần mẹ tắm. Bàn tay non nớt thỉnh thoảng nhói đau vì vô tình chạm phải những vết chai sần, vết xước trên vai mẹ. Đó là đôi vai gầy lộ rõ hốc xương, làn da sạm đi và nổi lên một lớp tế bào cưng cứng, gai gai. Ấy là lớp “bã chè” theo tiếng gọi của quê tôi.

Mẹ tôi là người con gái miền quê chân chất, thật thà. Mẹ lớn lên trong cảnh nghèo nàn, túng bấn, đất nước lại có chiến tranh nên không được học hành tới nơi tới chốn, cuộc đời phải gắn bó với đồng quê, thôn dã, chỉ biết mưu sinh bằng bàn tay lao động, bằng đôi vai đè nặng suốt bốn mùa.

Minh họa: Đ.T
Minh họa: Đ.T

Ngày ngày, từ buổi sáng tinh mơ, đàn gà vừa tao tác gọi bình minh thì đôi quang gánh của mẹ tôi đã đợi chờ trước ngõ. Từng gánh muối, gánh rau mong được đến chợ phiên, từng gánh phân, gánh nước mong được ra đồng và bao nhiêu thứ nữa. Còn những buổi trưa và chiều ngày mùa thì mẹ gánh lúa khoai, rơm rạ về nhà.

Con đường đất gồ ghề, trơn trượt nếu có cảm xúc thì có lẽ suốt quanh năm sẽ giật mình, kinh động bởi đôi bàn chân những người mẹ quê tôi nối đuôi nhau gõ nhịp dập dồn. Thanh âm ấy nghe nặng nề, chát chúa làm mặt đất rung lên nhưng không làm cho người ta khó chịu mà trái lại, nó như hơi thở, nhịp phách yêu thương của cuộc sống này.

Mẹ tôi chất đầy đồ lên quang gánh như nỗi lo chất trong lòng mẹ sớm hôm, làm sao cho kịp vụ kịp mùa, làm sao cho cây trồng đủ phân, đủ nước để phát triển tốt nhất mà đơm hoa kết trái, làm sao cho thu hoạch thật nhanh kẻo chẳng may mưa bão, làm sao bán được nhiều hàng trong một buổi chợ phiên. Những tính toán chi li ấy cứ hiện hữu thường trực trong lòng mẹ.

Vì thế, đôi vai trở thành nơi hứng chịu những nỗi lo âu, những đếm đong của của mẹ ngày ngày. Rồi gió mưa vô tình quăng quật làm chiếc nón chòng chành, chiếc áo tơi rách nát và chiếc đòn gánh chẳng thể nằm yên mà day day trên da thịt làm cho các tế bào chín đỏ, phồng rộp, thấm mưa đau rát, lâu dần thành lớp biểu bì chai sạn, xám xịt y như lớp vỏ cây cổ thụ xù xì, xơ cứng vậy. Còn xương bả vai thì dần trở nên cong võng, hao mòn nên dáng hình mẹ ngày một xấu đi.

Tôi dõi nhìn chân mẹ hối hả bước đi, nhìn dáng mẹ gồng lên cõng gánh xa dần mà mắt nhoè nhoẹt nước, sống mũi cay cay, tim như thắt lại. Tôi thương mẹ, thương đôi vài gầy của mẹ xiết bao.

Kí ức sâu đậm nhất trong tôi là về mùa giáp hạt này với những gánh hàng oằn trên vai mẹ. Tháng ba về, khoai lúa trong bồ đã cạn mà cây ngoài đồng chưa kịp trổ bông. Hôm nào mẹ cũng lọ mọ dậy sớm, sửa soạn mọi thứ cho con đến trường rồi tất tưởi lên đường mua bán mưu sinh.

Mẹ gánh rau, gánh muối lên ngàn cách xa nhà đến gần ba mươi cây số. Đó là vùng cậu mợ tôi cùng những người trẻ miền xuôi di dân lên làm kinh tế mới. Tinh mơ, dưới ánh trăng soi hay ngọn đèn pin lấp loá, mẹ tôi cùng với các cô, các chị trong làng nối đuôi nhau gánh những sản vật của vùng ven biển như nghêu, sò, mắm muối lên vùng núi để bán hay đổi lấy ngô, khoai và củ sắn mang về.

Con đường đất lô nhô sỏi đá quanh co uốn lượn, lúc ngược dốc thì phải gồng mình lê những bước chân nặng trịch đến bở hơi tai, còn khi xuôi dốc phải ghì đôi chân và quang gánh làm sao cho đừng trượt ngã. Thế mà mỗi ngày hai lượt đi về mẹ tôi đều gánh nhiều đến nỗi chiếc đòn gánh trên vai oằn cong thành chiếc vòng cung theo trĩu nặng hai đầu.

Đã bao lần cậu tôi đứng trên triền dốc, dõi nhìn theo bóng chị tất tưởi bước về xuôi trong nắng chiều hoang hoải hay trong làn mưa phùn thấm lạnh thâm u mà nước mắt tuôn rơi ướt đầm vai áo. Cậu vừa xót xa, vừa lo sợ cho sức chịu đựng của người chị mong manh phải oằn lưng trước cuộc đời dông bão.

Thế nhưng trong lòng mẹ tôi khi ấy thì chỉ có ánh mắt con thơ đợi chờ, trông ngóng, chỉ có những chiếc nồi nằm chơ chõng trên sàn chờ sắn, chờ khoai. Bao nỗi gian truân, khó nhọc bấy giờ hòa tan theo gió, chỉ có ước mơ và hy vọng thật nhiều.

Nhưng gánh nặng ấy vẫn chẳng là gì so với trọng trách làm dâu, làm vợ, làm mẹ trong gia đình, dòng tộc với bao việc nhỏ to. Bố tôi là con trai duy nhất của ông bà nội, từ nhỏ được cưng chiều hết mực nên chẳng mấy siêng năng, lo lắng, đức tính lại nóng nảy, ẩm ương nên mọi việc trong nhà dường như mẹ một mình đứng ra lo liệu.

Mẹ cứ như cỗ máy vận hành không biết mệt với trăm công ngàn việc từ bếp núc, nội trợ chăm chồng chăm con đến lam lũ trên đồng sâu ruộng cạn, từ nhẫn nhịn chiều chồng đến dạy dỗ con thơ để cửa nhà êm ấm. Rồi Tết nhất, giỗ chạp, đối đãi nội ngoại hai bên mẹ phải tính trước tính sau sao cho mọi việc được chu toàn, tình cảm anh em, họ hàng lối xóm luôn hoà thuận.

Mỗi khi gia đình có công việc trọng đại hay lễ Tết, tôi thường thấy mẹ hằng đêm thao thức, hết nép dọn cửa nhà rồi chép chép, ghi ghi. Mẹ tính làm sao cho mọi thứ cần mua gói gọn trong túi tiền eo hẹp, hoặc là túng thiếu thì xoay xở ở đâu, vay mượn chỗ nào cho đủ, cho êm. Cuộc sống khó khăn, nhà mình cơm ăn còn chưa đủ thì người ta đâu ai khấm khá gì nên mẹ cứ vào ra thấp thỏm, cứ nén tiếng thở dài nặng trĩu vào trong. Rồi khi công việc xong xuôi thì đôi vai mẹ lại oằn thêm vì phải gánh nợ nần. Tôi thấu rõ nỗi nhọc nhằn của mẹ, thấu nỗi lo âu mẹ canh cánh trong lòng.

Đi qua thời gian, mẹ tôi bây giờ đã chạm ngõ hoàng hôn với mái đầu bạc trắng, với làn da chi chít đồi mồi in dấu nắng mưa và đôi vai gầy rạc. Mẹ đã dành trọn cuộc đời còm cõi gánh sáu chị em tôi từ lúc hoài thai cho đến ngày khôn lớn. Thế mà giờ đây, khi chúng tôi đã cửa nhà yên ấm mẹ vẫn không thôi lo lắng, dõi nhìn từng bước con đi. Lòng mẹ, sự quan tâm của mẹ dành cho cháu, cho con như nước biển ngoài kia chẳng bao giờ vơi cạn. Mỗi khi có dịp quây quần, anh em tôi lại được nghe mẹ kể chuyện xưa, chuyện những tháng năm luôn trĩu nặng vai người mà nước mắt rưng rưng.