Những cánh cổng mở về phía yêu thương

Bích Phượng 15:39, 12/08/2026

Có những cuộc chiến đã kết thúc từ rất lâu, nhưng với nhiều gia đình, những mất mát do chiến tranh để lại vẫn hiện diện trong từng bữa cơm, từng giấc ngủ. Phía sau những cánh cổng bình dị vẫn là những phận người lặng lẽ mang theo di chứng chiến tranh, chờ một ngày nỗi đau ấy được sẻ chia nhiều hơn. Sáu mươi lăm năm, đánh dấu mốc ngày 10/8/1961, khi quân đội Mỹ lần đầu tiên rải chất độc hóa học xuống miền Nam Việt Nam, mở đầu cho thảm họa da cam/dioxin kéo dài nhiều thế hệ.  Ngày 10-8 hằng năm đã trở thành Ngày Vì nạn nhân chất độc da cam để nhắc nhở mọi người về một thảm họa đối với môi trường và sức khỏe con người, đồng thời kêu gọi cộng đồng xã hội chung tay xoa dịu nỗi đau da cam.

Ông Tạo bên mâm cơm cuối ngày.
Ông Tạo bên mâm cơm cuối ngày.

Chưa nguôi nỗi đau da cam
Đầu tháng Tám, chúng tôi đến thăm gia đình cựu chiến binh Nguyễn Văn Tạo ở tổ 60, phường Phan Đình Phùng. Con ngõ nhỏ yên tĩnh, căn nhà cấp bốn đã cũ nép mình sau cánh cổng sắt luôn cài then cẩn thận. Thấy khách đến, ông chậm rãi bước ra mở cửa. Dáng người gầy, mái tóc bạc trắng, giọng nói nhỏ nhẹ. Chỉ khi ngồi xuống bên chén nước chè xanh, nhìn theo ánh mắt thỉnh thoảng lại hướng ra phía cổng, chúng tôi mới hiểu vì sao cánh cổng ấy hiếm khi được để mở.
Ông Nguyễn Văn Tạo sinh năm 1952. Thuở trẻ, ông là sinh viên Trường Đại học Thủy lợi. Năm 1969, khi đang học năm thứ hai, ông gác lại giảng đường để lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của Tổ quốc. Những năm tháng chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị đã để lại trong người lính trẻ không chỉ những ký ức về bom đạn, về đồng đội ngã xuống ngay bên mình, mà còn cả di chứng của chất độc da cam. Ngày trở về năm 1973, sức khỏe của ông giảm sút do sức ép bom mìn, cơ thể mang thương tật với tỷ lệ tổn thương 61%.
Ông Tạo trải lòng: Sau khi xuất ngũ, vì sức khỏe không còn như trước nên tôi chỉ có thể làm công việc bảo vệ để mưu sinh. Nhưng luôn thấy mình may mắn vì đã được trở về, còn biết bao đồng đội đã nằm lại chiến trường. Thế nhưng, có những nỗi đau, phải nhiều năm sau tôi mới biết mình không thể tránh khỏi.
Năm 1975, ông lập gia đình với một nữ công nhân Hợp tác xã Dệt. Một năm sau, vợ chồng ông đón người con trai đầu lòng trong niềm hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ. Thế nhưng, đứa trẻ càng lớn càng có những biểu hiện khác thường. Một tuổi chưa biết lẫy, hai tuổi vẫn không biết bò, cũng chẳng cất được tiếng gọi cha, gọi mẹ. Đồng nào dành dụm được, vợ chồng ông lại đưa con đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác với hy vọng tìm ra căn nguyên của bệnh.
Đến năm 1979, người con trai thứ hai ra đời. Cậu bé phát triển bình thường, biết đi, biết chạy như bao đứa trẻ khác, khiến vợ chồng ông nghĩ rằng những tháng ngày nặng trĩu lo âu đã dần lùi lại. Nhưng khi đến tuổi đi học, những biểu hiện bất thường về hành vi ngày một rõ hơn. Rồi cậu cũng phải nghỉ học từ sớm.
Nhắc đến quãng thời gian ấy, ông Tạo lặng đi khá lâu: Vợ chồng tôi không hiểu vì sao các con lại như vậy. Có chút tiền nào là lại đưa con đi khám, chỉ mong bác sĩ tìm được cách chữa. Mãi sau này mới biết các con bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam...
Câu nói ngắt quãng giữa căn nhà nhỏ, nơi từng có những năm tháng chỉ quanh quẩn với thuốc thang, bệnh viện và những chuyến đi đầy hy vọng rồi trở về trong im lặng. 
Người con trai đầu nằm một chỗ, mọi sinh hoạt đều phải có người chăm sóc. Ông nghỉ việc để ở nhà lo cho con. Mọi gánh nặng cơm áo dồn lên vai người vợ. Người phụ nữ ấy đi làm từ sáng đến tối, chắt chiu từng đồng để nuôi chồng, nuôi con và nuôi cả hy vọng một ngày nào đó bệnh tình của các con sẽ thuyên giảm.

Hội Nạn nhân CĐDC/dioxin tỉnh Thái Nguyên phối hợp trao tặng xe lăn cho nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam.
Hội Nạn nhân CĐDC/dioxin tỉnh Thái Nguyên phối hợp trao tặng xe lăn cho nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam.


Đến năm 2019, bà mất, để lại ông cùng hai người con nương tựa vào nhau bằng số tiền trợ cấp hằng tháng. Tuổi đã cao, bệnh tật ngày một nhiều, nhưng mỗi ngày ông vẫn tự tay nấu cơm, giặt giũ, chăm sóc người con thứ hai. Có những hôm trái gió trở trời, người con lên cơn kích động, đập phá đồ đạc, ông phải nhờ đến sự giúp đỡ của lực lượng công an mới giữ được con bình tĩnh.
Người con trai đầu, sau gần nửa thế kỷ được cha mẹ thay nhau chăm sóc, đã được Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh tiếp nhận từ năm 2025.
Ông nói, giọng chậm rãi như tự trấn an mình: Cũng may người ta nhận vào đó chăm sóc. Tôi già rồi, sức khỏe yếu lắm, người ta chăm còn tốt hơn tôi. Giờ chỉ mong còn khỏe ngày nào thì còn lo được cho thằng thứ hai ngày ấy. Chỉ sợ sau này mình không còn nữa, chẳng biết con sẽ nương tựa vào ai...
Buổi chiều chúng tôi đến, ông đang chuẩn bị bữa cơm. Cứ một lát, ông lại bước ra hiên nhìn về phía con ngõ nhỏ. Ông bảo, người con thứ hai thường đi lang thang. Không ai biết khi nào anh trở về, chỉ đến lúc nhớ nhà thì lại bước qua cánh cổng ấy như chưa từng có cuộc đi xa.
Rời căn nhà của ông Nguyễn Văn Tạo, chúng tôi tiếp tục đến phường Bắc Kạn, nơi gia đình cựu chiến binh Nguyễn Duy Ruyến đã đi qua hơn bốn mươi năm với nỗi đau mang tên chất độc da cam.
Trong căn phòng nhỏ, cái nắng oi của những ngày đầu tháng Tám như lắng lại sau nhịp quạt đều trên tay bà Vũ Thị Đào. Bà vừa quạt cho con gái, vừa khẽ dỗ dành mỗi khi chị cất lên những tiếng ê a không thành lời. 
Ông Ruyến nhập ngũ năm 1973, chiến đấu tại chiến trường phía Nam. Sau ngày phục viên trở về quê hương năm 1981, ông lập gia đình, bắt đầu cuộc sống mới với những ước vọng bình dị như bao người lính vừa đi qua chiến tranh. Năm 1983, người con gái đầu lòng Nguyễn Thùy Duyên ra đời. Niềm vui làm cha mẹ chưa được bao lâu thì vợ chồng ông nhận ra con có những biểu hiện bất thường. Chị Duyên bị bại não bẩm sinh, dị dạng, dị tật chân tay do ảnh hưởng của chất độc da cam. 
Chị Duyên giờ đã ngoài bốn mươi tuổi nhưng vóc dáng vẫn nhỏ bé như một đứa trẻ. Đôi tay, đôi chân co quắp khiến chị chỉ có thể nằm hoặc lăn qua lại trên giường. Chị không nói được, chỉ phát ra những tiếng kêu khi đói, khi mệt hoặc lúc muốn được mọi người để ý. 
Bà Đào ngồi sát bên con, cúi xuống nhặt từng hạt cơm còn vương trên áo con gái. Không ai còn nhớ đã có bao nhiêu bữa cơm được đút bằng chiếc thìa nhỏ, bao nhiêu đêm hai vợ chồng thay nhau thức giấc vì con đau, bao nhiêu lần người cha đạp xe đưa con đi khắp các bệnh viện với niềm hy vọng mong manh. Chỉ biết rằng, đến hôm nay, căn phòng nhỏ ấy vẫn là nơi người mẹ mỗi ngày kiên nhẫn quạt cho con ngủ, xoa thuốc khi con đau và lặng lẽ đón nhận từng đổi thay rất nhỏ trên gương mặt con như một niềm vui.
Rời căn nhà khi nắng chiều đã dịu, hình ảnh còn ở lại trong chúng tôi không phải là những vết dị tật trên cơ thể chị Duyên, mà là bàn tay của người mẹ vẫn nhịp nhàng phe phẩy chiếc quạt tre bên giường con gái. Hơn bốn mươi năm, nhịp quạt ấy chưa một ngày dừng lại.

Những năm qua, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh và các nhà hảo tâm luôn dành sự quan tâm lớn đến các nạn nhân.
Những năm qua, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh và các nhà hảo tâm luôn dành sự quan tâm lớn đến các nạn nhân.


Để những cánh cổng luôn có người gõ
Những cánh cổng chúng tôi vừa bước qua chỉ là hai trong rất nhiều cánh cổng vẫn ngày ngày khép lại sau những phận người mang nỗi đau da cam. Ở đó, thời gian dường như trôi chậm hơn. Mỗi gia đình một hoàn cảnh, nhưng đều có chung nỗi lo khi bệnh tật còn đó, còn người chăm sóc thì ngày một già đi. Bởi thế, suốt hai mươi năm qua, những chuyến xe của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Thái Nguyên vẫn lặng lẽ nối những hành trình đến với từng địa phương, từng gia đình.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tỉnh Thái Nguyên có hơn 20.000 người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị phơi nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh. Từ năm 2000 đến năm 2025, tỉnh đã xác nhận hơn 12 nghìn người là nạn nhân chất độc da cam, thuộc diện người có công với cách mạng. Đến nay, toàn tỉnh còn 9.770 nạn nhân, trong đó có 8.440 nạn nhân trực tiếp và 1.330 nạn nhân gián tiếp; hơn 300 cháu thuộc thế hệ thứ 3 (F2) bị nhiễm chất độc hóa học nhưng chưa được công nhận là nạn nhân chất độc da cam, đang hưởng chế độ bảo trợ người tàn tật. Toàn tỉnh còn hơn 200 hộ gia đình có từ hai nạn nhân chất độc da cam trở lên, có những gia đình hai, ba thế hệ cùng mang nỗi đau chiến tranh. Đằng sau mỗi con số là một mái nhà vẫn đang mang di chứng chiến tranh, nơi bệnh tật và nỗi lo tuổi già chưa bao giờ thôi hiện hữu.

Những phần quà ý nghĩa, thiết thực là nguồn động viên, sẻ chia lớn đến các nạn nhân chất độc da cam.
Những phần quà ý nghĩa, thiết thực là nguồn động viên, sẻ chia lớn đến các nạn nhân chất độc da cam.


Ông Nguyễn Đức Cảnh, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Thái Nguyên cho biết, điều trăn trở nhất của Hội là nhiều gia đình có hai, thậm chí ba thế hệ cùng chịu ảnh hưởng của chất độc da cam. Có những người cha, người mẹ đã ngoài bảy mươi tuổi vẫn hằng ngày chăm sóc người con tật nguyền; cũng có những gia đình nỗi đau ấy tiếp tục kéo dài sang cả thế hệ cháu.
Hai mươi năm kể từ ngày thành lập, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Thái Nguyên đã trở thành nhịp cầu nối những tấm lòng nhân ái với các nạn nhân. Từ sự chung tay của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhà hảo tâm và cộng đồng, Hội đã vận động được hơn 102,5 tỷ đồng để chăm lo cho nạn nhân. Từ nguồn lực ấy, 97.359 lượt nạn nhân và gia đình nạn nhân được thăm hỏi, tặng quà; 357 ngôi nhà được xây mới, sửa chữa; 446 nạn nhân được hỗ trợ xông hơi giải độc, phục hồi sức khỏe; 44 sổ tiết kiệm, 185 xe lăn cùng nhiều hình thức hỗ trợ sinh kế đã được trao đến những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. 
Điều còn đọng lại sau những chuyến đi không phải là những con số hay những món quà đã được trao, mà là cảm giác ấm lòng của những gia đình vẫn luôn có người tìm đến, lắng nghe và sẻ chia.
Suốt hai mươi năm qua, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Thái Nguyên không chỉ làm cầu nối giữa các tổ chức, nhà hảo tâm với những phận đời còn nhiều thiếu thốn, mà còn bền bỉ giữ gìn một mạch nguồn nghĩa tình. Mỗi chuyến thăm, mỗi phần hỗ trợ, mỗi mái nhà được sửa chữa hay một chiếc xe lăn được trao đi đều là lời nhắn gửi rằng, cộng đồng chưa bao giờ quay lưng với những nạn nhân chất độc da cam.
Khi chúng tôi rời đi, cánh cổng nhà ông Tạo lại khép. Trong căn phòng nhỏ của gia đình ông Ruyến, chiếc quạt tre vẫn chậm rãi đưa qua đưa lại. Có lẽ ngày mai, ngày kia và nhiều năm nữa, những hình ảnh ấy vẫn còn ở đó. Chỉ mong rằng, phía bên ngoài mỗi cánh cổng sẽ luôn có thêm một bước chân tìm đến.