Trên bản đồ văn hóa trà Việt Nam và thế giới: Trà Thái Nguyên từ sản vật trung du đến di sản sống

Hà Thanh Vân 19:17, 02/01/2026

Trong vài thập niên trở lại đây, trà Thái Nguyên nói riêng bước vào một hành trình định vị mới, từ một thức uống chủ yếu mang màu sắc dân dã, đại chúng đến danh xưng “đệ nhất danh trà”, từ sản vật vùng miền trở thành di sản sống gắn liền với không gian văn hóa và du lịch xanh.

Không gian sản xuất và trải nghiệm của Hợp tác xã chè Hảo Đạt tại xã Tân Cương
Không gian sản xuất và trải nghiệm của Hợp tác xã chè Hảo Đạt. Ảnh: T.L

Ở giữa những nghi thức trà của thế giới

Nhắc đến trà uống theo kiểu truyền thống, phần đông người Việt sẽ nghĩ ngay đến ấm chè xanh bốc khói trên bàn gỗ, góc bếp, hiên nhà, nắm chè non vừa hái ngoài vườn, tráng qua loa, đổ nước sôi vào ấm nhôm, ấm đất, rồi uống giữa một câu chuyện phiếm tiếp khách hay sau một buổi đồng áng vất vả.

Văn hóa trà truyền thống ở Việt Nam từ lâu được mặc định là văn hóa uống trà dân dã với chè xanh, giá rẻ, dễ kiếm, gắn với đời sống nông dân. Ngay cả khi sao trà, người Việt xưa cũng không quá cầu kỳ nghi lễ, sao bằng chảo gang, bằng tay, ướp thêm hoa nhài, hoa sói… tùy vùng, tùy khẩu vị.

Câu chuyện chính vẫn là có chén nước trà mời nhau, coi trọng tình nghĩa, sự tiếp đãi hơn là nghi thức. Chính vì vậy, trà Việt Nam trong nhiều thế kỷ mang hình ảnh hiền lành, gần gũi, ít được ý thức như một nghệ thuật trà.

Chỉ trong vài thập niên gần đây, cùng với sự trỗi dậy của ý thức xây dựng thương hiệu nông sản, di sản, quan niệm ấy mới dần thay đổi. Trà Việt, trong đó có trà Thái Nguyên, được tôn vinh tại các festival, lễ hội, trong các hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể, trong những thử nghiệm không gian văn hóa trà, du lịch trà. Tuy nhiên, nếu đặt trong bản đồ văn hóa trà thế giới, trà Việt nói chung và trà Thái Nguyên vẫn đang ở những bước đầu của hành trình ý thức hóa và định vị bản thân mình.

Nhìn sang Nhật Bản, ta bắt gặp một cực đối lập thú vị. Trà đạo (chanoyu/ sadō) ở Nhật không chỉ là cách pha và uống trà, mà là một hệ thống mỹ học và triết học, từ kiến trúc trà thất, khu vườn dẫn vào, tư thế ngồi, cách cầm chén, thứ tự mời khách, đến âm thanh của nước sôi, độ thô nhám của chén trà…, tất cả đều được nâng lên thành “đạo”, là con đường tu dưỡng tinh thần. Trà đạo Nhật Bản đề cao những khái niệm như wabi sabi có nghĩa là vẻ đẹp mộc mạc, bất toàn, vô thường, sự tĩnh lặng nội tâm, “nhất kỳ nhất hội” (mỗi lần uống trà là một cuộc gặp gỡ duy nhất, không lặp lại). Người chủ trì buổi trà không chỉ biết pha trà mà còn hiểu về thư pháp, hoa đạo, gốm, kiến trúc… Đặt bên cạnh trà đạo Nhật Bản, trà Việt càng lộ rõ tính “bình dân” và ứng biến với không gian uống trà có thể là bất cứ đâu, từ chiếc ghế nhựa vỉa hè đến bộ trường kỷ gỗ lim; chén trà có thể là chén sành, ly thủy tinh; nghi thức tùy vào quan hệ thân sơ, vào hoàn cảnh.

Trung Hoa được xem là cái nôi của cây trà, nên không lạ khi văn hóa trà ở đây được xây dựng trên một nền tảng huyền thoại đồ sộ. Có vô số chuyện kể về nguồn gốc của trà, từ Thần Nông nếm trăm thứ cỏ đến danh y, văn nhân phát hiện ra công dụng thanh tâm, giải nhiệt, dưỡng sinh của trà. Trà gắn chặt với tên tuổi của những danh nhân văn hóa như Lục Vũ với “Trà Kinh”, bản sách kinh điển đầu tiên về trà; các thi nhân đời Đường, Tống với thơ về trà; các họa gia với tranh bình phong, thủy mặc về trà; các thiền sư với sự kết nối giữa trà và thiền. Mỗi loại trà như Long Tỉnh, Thiết Quan Âm, Bạch Hào Ngân Châm, Phổ Nhĩ… đều đi kèm với địa danh, truyền thuyết, câu chuyện lịch sử, tạo nên tầng tầng lớp lớp ngữ nghĩa xung quanh một tách trà.

Khi người Trung Quốc mời nhau uống trà, họ có cả một kho ký ức văn hóa đi kèm. So với bề dày ấy, trà Việt, dù cũng có những câu chuyện, truyền thuyết riêng nhưng còn ít ỏi, chưa được hệ thống hóa và quảng bá mạnh mẽ. Ở vùng đất Thái Nguyên có thể kể về những đồn điền chè thời Pháp, về hành trình lập nghiệp của các hộ trồng chè Tân Cương, nhưng chưa có một “Trà Kinh Việt”, chưa có những danh nhân gắn tên tuổi với trà một cách đậm đặc trong ký ức của cộng đồng như ở Trung Quốc.

Thái Nguyên đang hướng tới mục tiêu đưa chè trở thành “cây tỷ đô”. Ảnh: T.L
Thái Nguyên đang hướng tới mục tiêu đưa chè trở thành “cây tỷ đô”. Ảnh: T.L

Ở một phía khác của bản đồ thế giới, trà chiều kiểu Anh, Pháp lại gắn với tính quý tộc và lịch sử thuộc địa. Tập quán “afternoon tea” hay “high tea” hình thành trong bối cảnh trà là hàng hóa xa xỉ, được vận chuyển bằng tàu biển từ Trung Hoa, Ấn Độ, Sri Lanka… sang Châu Âu với chi phí, rủi ro rất cao. Chính vì quý hiếm, trà trở thành dấu hiệu của địa vị xã hội khi chỉ giới quý tộc, thượng lưu mới có điều kiện dùng trà thường xuyên. Từ đó, trà chiều được tổ chức với bộ ấm chén sứ tinh xảo, bánh ngọt, bánh mặn, hoa, khăn ren, nhạc nhẹ, trang phục chỉnh tề… Cả một nghi thức giao tiếp, thời khóa biểu sinh hoạt xoay quanh trà với khung giờ cố định, cách rót trà, mời trà, trò chuyện, thậm chí cả ngôn ngữ cơ thể khi nâng tách trà. Ngày nay, dù trà chiều kiểu Anh đã phổ biến hơn, đó vẫn là hình ảnh mang sắc thái lãng mạn, quý tộc, là trải nghiệm được tổ chức trong các khách sạn, nhà hàng sang trọng.

Đặt cạnh đó, trà Việt Nam và trà Thái Nguyên gần như đứng ở một thái cực khác, không có nền tảng thuộc địa theo nghĩa là mẫu quốc uống trà thuộc địa, không có tầng lớp quý tộc theo kiểu châu Âu gắn với trà. Trà Việt vì vậy không khoác lên mình danh xưng quý tộc, mà gần với tinh thần bình dân, cộng đồng.

Từ sản vật trung du đến “đệ nhất danh trà” và trở thành di sản sống

Từ những đối sánh ấy cho thấy so với trà đạo Nhật Bản, chúng ta thiếu một hệ nghi lễ, triết lý được chuẩn hóa và truyền dạy bài bản. So với trà Trung Hoa, chúng ta thiếu một hệ thống huyền thoại, điển cố, danh nhân gắn liền với trà được kể lại rộng rãi. So với trà chiều Anh, Pháp, chúng ta thiếu một lịch sử trà như biểu tượng giai tầng để tạo sức hấp dẫn thị giác và cảm thức trải nghiệm sang trọng.

Trà Việt Nam nói chung, trà Thái Nguyên nói riêng vẫn được nhìn trước hết như một sản phẩm nông nghiệp, một đặc sản để làm quà, hơn là một trải nghiệm văn hóa trọn vẹn. Nhiều du khách đến vùng trà chỉ dừng lại ở việc mua vài gói trà, chụp vài tấm hình với đồi chè, chưa được dẫn dắt vào những tầng sâu hơn với những câu chuyện di sản, lịch sử, mỹ học, tri thức dân gian, triết lý sống gắn với chén trà…

Nhìn trên bản đồ nông nghiệp Việt Nam, Thái Nguyên là một trong những vùng hiếm hoi mà hình ảnh cây chè gần như trùng khít với bản sắc địa phương. Địa hình trung du lượn sóng, khí hậu mát, đất feralit đỏ vàng trên đá phiến và đá biến chất, độ pH, độ dốc, lượng mưa… tất cả tạo nên một khí hậu đặc biệt thích hợp cho cây chè. Không phải ngẫu nhiên mà từ đầu thế kỷ XX, người Pháp đã chọn vùng đất này để lập các đồn điền trồng trà, rồi dần dần hình thành nên những làng nghề chè nổi tiếng như Tân Cương, La Bằng, Trại Cài, Phú Đô,… Trải qua các thời kỳ chiến tranh, bao cấp, đổi mới, cây chè vẫn bền bỉ bám rễ, lặng lẽ trở thành nguồn sống của hàng vạn hộ nông dân.

Từ những năm 1990 trở lại đây, khi khái niệm “đặc sản vùng miền” được quan tâm hơn, trà Thái Nguyên bắt đầu được gọi bằng danh xưng trân trọng là “đệ nhất danh trà”. Danh xưng này không chỉ đến từ vị chát dịu, ngọt hậu, hương cốm và màu nước xanh sánh đặc trưng, mà còn từ uy tín đã gây dựng trên thị trường trong nước, xuất hiện trong nhiều cuộc thi, hội chợ, festival trà. Các làng trà Tân Cương, La Bằng nhiều lần đạt giải cao tại các hội thi sản phẩm chè ngon, góp phần củng cố thương hiệu mềm cho vùng đất. Trong đời sống thường ngày, chén trà Thái đã trở thành một cách gọi tắt, được mặc định như chuẩn mực về trà ngon, tương tự như cách người ta gọi vải Lục Ngạn, cam Cao Phong…

 

Đằng sau danh xưng “đệ nhất danh trà” là một cấu trúc xã hội, văn hóa khá phức hợp, bao gồm các hộ gia đình nhỏ với bí quyết sao, ướp trà gia truyền; các hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, đóng gói, xây dựng nhãn hiệu; các lễ hội, festival trà cấp tỉnh và quốc gia để quảng bá; những tuyến du lịch đồi chè đang hình thành. Mỗi tầng nấc ấy góp thêm những lớp nghĩa cho trà, từ sản phẩm nông nghiệp, trà được nâng lên thành biểu tượng văn hóa của Thái Nguyên, rồi từng bước được đặt trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch xanh của địa phương.

Điểm ngoặt quan trọng trong hành trình của trà Thái Nguyên là ngày 14.2.2023, khi “Tri thức dân gian trồng và chế biến chè Tân Cương” được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (Quyết định số 240/QĐ-BVHTTDL). Từ thời điểm đó, cây chè không chỉ được nhìn  nhận như một cây trồng chủ lực, mà toàn bộ vốn hiểu biết, kinh nghiệm, tập quán gắn với nó được chính thức thừa nhận là di sản. Di sản ở đây chính là tri thức “biết nhìn đất, chọn giống, cắt tỉa, hái búp, sao, ủ, bảo quản, pha và thưởng trà”, được chắt lọc qua nhiều thế hệ người làm chè Tân Cương.

Điều đáng chú ý là chủ thể di sản chính là cộng đồng nông dân địa phương. Ở Tân Cương, cây chè nuôi sống gần 1.400 hộ gia đình thuộc 16 xóm, người dân ăn, ngủ… đều nghĩ tới chè, tự hào về cây chè quê mình. Nhìn dưới góc độ văn hóa, mỗi người trồng chè, sao chè, mỗi nghệ nhân biểu diễn kỹ thuật sao chè trong lễ hội… đều là một bảo tàng sống, mang theo trong mình những bí quyết, câu chuyện, kinh nghiệm không ghi trong giáo trình, cuốn sách nào. Chính họ làm cho di sản không bị đông cứng, đóng khung trong hồ sơ, mà tiếp tục biến đổi, thích nghi với khí hậu, thị trường, gu thưởng thức trà mới.

Danh hiệu di sản không chỉ dừng ở tấm bằng công nhận. Cùng với nó là một hệ thống chính sách và khuyến nghị như truyền dạy và giáo dục di sản cho thế hệ trẻ, đãi ngộ nghệ nhân, sưu tầm, tư liệu hóa tri thức, ứng dụng khoa học công nghệ vào bảo vệ di sản, gắn di sản với du lịch cộng đồng. Những hoạt động như Lễ hội “Hương sắc Trà Xuân - vùng chè đặc sản Tân Cương”, nơi nghệ nhân trình diễn sao chè trước du khách, hay các tour trải nghiệm “một ngày làm người trồng chè” là minh chứng cho cách tiếp cận coi trà là di sản sống khi người dân tiếp tục làm nghề, đồng thời kể lại nghề của mình cho người khác, biến chính cuộc sinh nhai thành một loại hình văn hóa có thể chia sẻ, thưởng thức.

Du lịch trà và giấc mơ không gian xanh ở vùng đất Thái Nguyên

Từ khi cây chè không còn chỉ đứng trong vùng sản xuất nông nghiệp mà bước ra sân khấu du lịch, Thái Nguyên bắt đầu định hình một kiểu du lịch trà khá đặc trưng. Thay vì chỉ ghé qua mua ít trà làm quà, du khách bây giờ được đi sâu vào các xóm chè, đứng trên những triền đồi thoai thoải, nghe chủ nhà giới thiệu giống chè, đất trồng, thời điểm hái “một tôm hai lá”, rồi tự tay bứt từng búp non còn ướt sương. Những mô hình homestay, farmstay vùng chè xuất hiện, nơi bữa sáng là bát cơm nấu bằng gạo địa phương, đĩa rau vườn nhà và tất nhiên là có cả ấm trà mới sao tối qua.

 

Du lịch trà, nếu làm đến nơi đến chốn, cho phép du khách chạm vào hai lớp không gian xanh là màu xanh hữu hình của đồi chè và màu xanh vô hình của lối sống bền vững. Khác với loại hình du lịch tiêu thụ nhanh, du lịch trà buộc người ta phải sống chậm lại, chậm bước trên đường làng, chậm tay khi hái chè, chậm miệng khi nhấp ngụm đầu tiên để kịp phân biệt vị chát, vị ngọt, “hậu” sâu hay nông. Ở đó, câu chuyện về biến đổi khí hậu, về bảo vệ nguồn nước, về giữ màu xanh đất dốc không còn là khẩu hiệu, mà hiện lên ngay trong những chuyện kể thực tế của người nông dân.

Tuy vậy, giấc mơ không gian du lịch xanh vùng trung du cũng đi cùng không ít thách thức. Khi những nương chè trở thành “phông nền check-in”, nguy cơ du lịch hóa hời hợt luôn rình rập với lều quán mọc tự phát, rác thải từ những đoàn khách đông, tiếng loa kéo át tiếng gió trên đồi. Nếu không có quy hoạch tốt, không có quy tắc ứng xử văn hóa, đồi chè rất dễ biến thành một công viên giải trí tạm bợ, nơi trà chỉ còn là cái tên gắn trên biển hiệu, còn hồn vía cây chè đã lùi xa. Mặt khác, để giữ được chất lượng trải nghiệm, đòi hỏi người làm du lịch vốn phần lớn xuất thân từ nông dân, phải được hỗ trợ về kỹ năng đón khách, kể chuyện, làm dịch vụ, để không cảm thấy mình đóng vai ngay trên chính mảnh đất của mình.

Từ một sản vật trung du, trà Thái Nguyên đã đi một hành trình dài để trở thành “đệ nhất danh trà”, được thừa nhận như một di sản sống và đang mở rộng vai trò trong các mô hình du lịch xanh, du lịch cộng đồng. Ẩn sau mỗi chén trà là cấu trúc phức hợp của đất đai, khí hậu, tri thức dân gian, ký ức cộng đồng, chính sách phát triển và cả những nỗ lực âm thầm của người nông dân, nghệ nhân, nhà quản lý.

Nói cách khác, trà Thái Nguyên hôm nay không chỉ là một sản phẩm để bán, mà còn là một câu chuyện để kể, một bản sắc văn hóa để gìn giữ. Đó cũng chính là con đường để định vị trà Thái Nguyên trên bản đồ trà Việt Nam, là những bước đầu tiên để trà Việt có thể xưng danh trên thế giới.