Vùng chè trong sương núi

THÁI GIANG 09:20, 14/05/2026

     Buổi sớm ở La Bằng thường bắt đầu bằng màn sương mỏng vương khắp triền núi. Từ trên đỉnh Tam Đảo, những đám mây như đang đổ xuống, phủ lên từng nương chè tạo nên sự huyền ảo. Con suối Kẹm nước trong veo, róc rách chảy men theo sườn đồi, ngày đêm len lỏi vào mạch nguồn đất thịt để nuôi dưỡng từng búp chè non. Trong làn mây trắng tinh sương, thấp thoáng bóng dáng những người dân hái chè thoắt ẩn, thoắt hiện, bàn tay đưa nhanh nhưng mềm mại giữa không gian mênh mông, như đang cùng nhau dệt nên tấm thảm lụa xanh rờn, tươi mát trải dài đến tận chân trời. Giữa bao la mây trời, vẻ đẹp của đồi chè không chỉ từ màu xanh bất tận, mà còn từ đôi bàn tay người lao động đang lặng lẽ gửi cả tuổi xuân, mồ hôi và nhịp tim mình vào từng đọt chè mới nhú...

Vùng chè La Bằng đã trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều du khách trong, ngoài nước.

     Nơi tinh hoa hội tụ

     “Chè La Bằng có cái hương rất riêng, không giống bất kỳ vùng nào khác” - ông Nguyễn Văn Phúc, 65 tuổi, một người làm chè lâu năm ở La Bằng nói rồi nhấp ngụm trà nóng. “Chát dịu ở đầu lưỡi, nhưng sau đó là vị ngọt hậu đọng mãi, hương thì thơm cốm non, thoảng nhẹ thôi nhưng đủ để nhớ cả đời”.

     La Bằng nằm ở sườn Đông dãy Tam Đảo, nơi độ cao và khí hậu đặc trưng vùng trung du tạo nên một tiểu khí hậu đặc biệt. Sáng sớm sương phủ dày kín lối, trưa nắng dịu nhẹ đủ để hong khô những giọt sương còn vương trên búp chè non mà không hề gay gắt, đến chiều tối, từng đợt gió lành từ rừng núi khe khẽ thổi, mang theo hơi mát xoa dịu cả không gian. Bốn mùa xoay vòng như một nhịp thở an hòa, thiên nhiên dường như đã hữu ý dành riêng mảnh đất này cho cây chè bén rễ, vươn mình. Chính điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo nên hương vị độc đáo của chè La Bằng - thứ hương vị mà dân trong nghề gọi là “trà tiên”, bởi búp chè nơi đây không chỉ xanh ngời đắm mình trong sương sớm, sưởi ấm bởi nắng mai, mà còn gói trong mình linh khí của trời đất, mạch nguồn và núi rừng.

     Tương truyền, cây chè ở La Bằng đã xuất hiện từ hàng trăm năm trước. Ban đầu, chỉ vài hộ dân bản địa mang giống về trồng bên những sườn đồi thoai thoải. Nhưng nhờ hợp đất, hợp trời, nên cây chè phát triển xanh tốt, lá dày bóng mượt, búp mập căng tràn, hương thơm ngát đến lạ thường. Từ vài luống nhỏ ban đầu, xanh non mà kiêu hãnh, dần lan khắp triền núi, theo năm tháng, trở thành một phần hơi thở của đất La Bằng. Người đi chợ, người ở bản, ai cũng gắn bó với nương chè như gắn bó với máu thịt của mình. Cứ thế, từ một giống cây khiêm nhường, cả vùng đất đã hóa thành “xứ trà”, nơi nhà nhà, người người sớm tối gửi gắm đời mình trong sắc xanh trải dài bất tận. Giờ đây, sau 65 năm, La Bằng đã trở thành một trong 4 vùng chè cho ra các sản phẩm có chất lượng, năng suất cao ở Thái Nguyên. Sau sáp nhập (2 xã Hoàng Nông và La Bằng), diện tích chè của La Bằng hiện có khoảng 800ha.

     Để làm nên một chén trà ngon, người La Bằng coi đó không chỉ là công việc, mà còn là cả một nghệ thuật, một nghi lễ đòi hỏi sự tỉ mỉ, công phu. Từng động tác hái, sao, vò đều như gửi gắm vào đó tâm hồn, sự tâm huyết của mình để tạo nên hương vị đặc trưng, đậm đà, tinh túy nhất.

Hội tụ tinh hoa của đất trời, vùng chè La Bằng có một vẻ đẹp riêng có, nằm dưới chân núi Tam Đảo.

     Với người làm chè La Bằng, thời khắc hái chè cũng là một sự chọn lọc khắt khe, phải chọn lúc sớm mai, khi những giọt sương mỏng nhẹ còn vương trên búp non. Hái chè cũng phải đúng kỹ thuật “một tôm hai lá”. Theo chia sẻ của bà Nguyễn Thị Hải, Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Giám đốc Hợp tác xã chè La Bằng thì, những búp chè còn đẫm sương mai ấy, khi hái về, nếu để qua nửa buổi, hương sẽ nhạt dần và vị vơi đi. Bởi vậy, chè mang về phải được sao ngay trên bếp củi, trong chiếc chảo gang dày đen bóng qua khói lửa bao đời. Người sao chè đứng bên bếp, tay không ngừng đảo, từng động tác nhịp nhàng như thả mình vào một vũ điệu đặc trưng. Hơi nóng hồng rực thấm vào từng sợi lá, quyện cùng mùi khói lửa, dậy lên một hương thơm man mác, dìu dặt. Lửa để sao chè phải vừa đượm, như nhịp tim - gắt quá, chè cháy khét, hương bay mất, nhỏ quá, lá héo úa, vị chẳng còn. Người làm chè vì thế phải tinh tế bằng cả năm giác quan: Mắt nhìn khói, mũi ngửi hương, tai lắng nghe tiếng “xèo xèo” khe khẽ, tay cảm nhận độ nóng và trái tim giữ nhịp kiên nhẫn. Những nghệ nhân già dặn chỉ cần nhìn vào làn khói bảng lảng bốc lên, ngửi hương trà dậy trong gió, hay lắng nghe tiếng của búp non trong chảo, là biết ngay chè đã tới độ hay chưa - một sự tinh tế “thượng thừa” mà không sách vở nào có thể dạy được.

     Người La Bằng vẫn truyền nhau câu nói: Thưởng trà thì phải “nhất thủy, nhì trà, tam pha, tứ ấm”, nhưng làm chè còn cần thêm “ngũ công” - công phu của chính người nghệ nhân. Chỉ một động tác sai, một thoáng lửa quá tay, cả mẻ chè cũng có thể hỏng. Bởi thế, chén trà ngon không chỉ là sản vật mà còn là kết tinh của mồ hôi, công sức, kinh nghiệm và cả tình yêu lao động của bao thế hệ nơi này.

     Bà Hoàng Thị Hợi, nay đã ngoài 70 tuổi ngồi kể lại mà ánh mắt long lanh, không giấu nổi tự hào: “Ngày trước, tôi sao chè bằng tay trần. Nóng bỏng rát lắm, có lúc da phồng rộp, mà vẫn phải đảo đều tay. Khi ấy chưa có máy, có khi cả ngày chỉ làm được vài cân. Nhưng chính cái cách làm thủ công ấy, từng cánh chè giữ trọn hương vị tự nhiên, ngọt thơm, mà giờ có tìm khắp nơi cũng không đâu sánh được”.

     Trà trong đời sống và lịch sử

     Ở La Bằng, chè không chỉ là cây trồng, sản phẩm nông nghiệp đơn thuần mà với người dân nơi đây, lá chè đã hòa vào hơi thở cuộc sống, trở thành một phần không thể thiếu trong tâm hồn và ký ức bao thế hệ. Mỗi tinh mơ, khi búp chè còn vương sương sớm, người dân lên nương hái về, rồi quây quần bên ấm trà xanh nghi ngút khói. Chén trà khởi đầu ngày mới vừa ấm áp lòng người, vừa là cầu nối để những câu chuyện mùa màng, chuyện nắng mưa, chuyện làng xóm được dài thêm, chan hòa, gần gũi. Chén trà hiện diện trong mọi cung bậc của đời sống. Trong ngày cưới, ấm trà xanh được bày ra như lời chúc phúc cho đôi lứa; trong đám giỗ, chén trà đặt trên bàn thờ như nén tâm hương tưởng nhớ tổ tiên; trong ngày hội, chén trà gắn kết người với người, làng với làng thêm gần gũi. Có thể nói, với người La Bằng, một ngày thiếu đi vị trà quen thuộc là một ngày như vơi bớt phần nào cảm xúc và hồn quê hương.

Trà La Bằng luôn được kiểm nghiệm nghiêm ngặt, đảm bảo sản phẩm đưa đến tay người tiêu dùng đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm.

     Chè La Bằng không chỉ đơn thuần là một nét đẹp đời thường mà còn thấm đẫm những câu chuyện thiêng liêng của lịch sử và niềm tự hào dân tộc. Trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), vùng đất này từng là căn cứ cách mạng, nơi che chở, nuôi dưỡng những người chiến sĩ anh dũng, một lòng yêu nước. Khi ấy, chè không chỉ để thưởng thức, mà còn là “cầu nối” âm thầm của niềm tin và khát vọng hòa bình. Trong cuộc kháng chiến gian khổ đó, từ năm 1945 đến 1946, Nhân dân xã La Bằng đã tích cực tham gia phong trào tự vệ, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giải phóng đất nước. Có người dân lặng lẽ gùi chè qua rừng sâu, gửi tặng chiến sĩ như gửi gắm cả tấm lòng chân thành. Có gia đình chắt chiu từng mớ chè, bán lấy tiền mua gạo, nuôi dưỡng phong trào cách mạng và có những người yêu nước dũng cảm, từ La Bằng vượt qua rừng Tam Đảo, sang địa bàn giáp ranh như Phục Linh, Tân Thái, thậm chí đến tận Tuyên Quang để gửi chè, nuôi cán bộ. Từ đó, lá chè xanh đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của sự kiên cường, lòng trung thành, thủy chung của Nhân dân đối với đất nước. Trải qua bom đạn, gian khó, chè La Bằng vẫn bền bỉ xanh trên sườn đồi thoai thoải nối tiếp nhau, vẫn lan tỏa hương thơm dịu dàng như hơi thở quê hương. Từ những nương chè, người dân La Bằng đã dựng xây không chỉ miếng cơm, manh áo, mà còn vun đắp một giá trị tinh thần, một bản sắc không gì thay thế được. Lá chè xanh vừa bình dị, cao quý chứng kiến bao đổi thay của đất và người theo thời gian, vừa gói trong mình nỗi nhọc nhằn mưu sinh, mang theo ký ức về những năm tháng lịch sử hào hùng.

     Nếu chè Tân Cương nổi tiếng bởi vị ngọt hậu thanh tao, thì chè La Bằng lại được ví như “cô gái Tam Đảo” - vừa dịu dàng, e ấp, vừa sâu lắng, mặn mà. Người sành trà chỉ cần nhấp một ngụm đã thấy sự khác biệt rất riêng: Vị chát đầu lưỡi nhanh chóng tan đi, để lại dư âm ngọt mát nơi cuống họng, lan tỏa như một khúc ngân dài. Đó không chỉ là hương vị, mà là tinh chất của núi rừng, của đất trời, của bàn tay khéo léo và tấm lòng nặng nghĩa tình của người La Bằng. Chính nét độc đáo ấy đã đưa La Bằng trở thành một trong những vùng chè đặc sản trứ danh, được giới thưởng trà trong và ngoài nước tìm đến như tìm về một miền đất ẩn chứa cái hồn tinh khiết. Với nhiều người, một chén trà La Bằng không đơn thuần là thức uống, mà còn là cuộc đối thoại thầm lặng giữa con người với thiên nhiên, giữa hiện tại với ký ức bao đời.

Mẫu mã sản phầm trà La Bằng ngày càng phong phú, đa dạng. đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm.

     Ngày nay, du khách thập phương về với Thái Nguyên - Thủ đô gió ngàn, La Bằng là điểm dừng chân không thể bỏ qua. Họ đến không chỉ để mua cho mình một vài cân trà mang về dùng dần hay biếu, tặng người thân, mà còn để tận hưởng một trải nghiệm trọn vẹn: Được đi giữa những đồi chè xanh mướt bạt ngàn, lắng nghe tiếng gió thì thầm qua từng tán lá, hít hà hương thơm mát dịu của búp chè non còn vương sương sớm. Nhiều du khách còn thích thú khi được tự tay hái chè, được nghe các nghệ nhân kể về bí quyết sao vò, rồi ngồi bên bờ suối Kẹm róc rách, nâng chén trà nóng mà lòng bỗng lắng đọng, nhẹ tênh. Ở khoảnh khắc ấy, người ta không chỉ thưởng trà, mà còn thưởng cả một không gian văn hóa. Trong vị chát ngọt của trà, có sự bình dị của nếp sống làng quê, có sự kiên cường của đất và người qua tháng năm lịch sử và có cả sự nồng hậu, hiếu khách của người dân bản địa. Chính điều đó đã tạo nên bản sắc riêng biệt của chè La Bằng - một thứ hồn quê hương không thể trộn lẫn, vừa mộc mạc, gần gũi, vừa sâu xa, thấm thía đến vô cùng.