Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
(Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa tươi
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi)
Uống trà ngày xuân để chiêm nghiệm lời của Thiền sư Mãn Giác. Dù không trực tiếp viết về trà, nhưng bài thơ thấm đẫm tinh thần trà đạo, gói trọn triết lý về sự vô thường. Xuân đến rồi đi, hoa nở rồi tàn, cuộc thế đổi thay, con người thêm tuổi. Tất cả đều là quy luật tự nhiên, không thể cưỡng cầu.
![]() |
Trong không gian thanh tịnh của những ngày đầu năm mới, khi hương trầm phảng phất và đào, mai khoe thắm, lòng người lại bâng khuâng kiếm tìm sự thanh lọc, tĩnh tại và bình yên.
Nếu xuân là một bức tranh đa sắc, thì trà chính là nét vẽ tinh tế, điểm xuyết sự tĩnh lặng, thanh thoát. Nếu xuân là một khúc nhạc rộn ràng, thì trà chính là nốt trầm ngân dài, êm ái, gợi lên những chiêm nghiệm lắng sâu.
Trà là dược liệu dưỡng sinh, dưỡng tâm trước cái lẽ chuyển dịch. Nhấp một ngụm trà chát ngọt với hương thơm thanh khiết, để gột rửa, trút bỏ những vội vã, lo toan của năm cũ, thơ thới an trú trong khoảnh khắc hiện tại, nhìn rõ sự biến thiên mà không nao núng, bất an.
Nâng chén trà xuân cùng thi nhân là một dịp tao ngộ, để được nhâm nhi phong vị của thời gian và đất trời. Lần giở cảo thơm, nghe câu chữ của người xưa, người nay ngân vang, hòa quyện. Qua đó thấm thía tinh thần thiền - triết của ẩn sĩ, hay nỗi niềm ưu thời mẫn thế của bậc trí nhân, hay những tâm tư dung dị đời thường, và cả sự lãng mạn, bay bổng của tấc hồn thi sĩ.
Với những bậc danh sĩ thời xưa, trà hiện diện như một người bạn, song hành trong từng đoạn khúc thời cuộc; được xem như phương tiện thanh tâm dưỡng trí, giữ thần khí, thể hiện cốt cách thanh cao, phong thái ung dung, tự tại.
Với Nguyễn Trãi, giữa nhiễu nhương thế sự, trà gắn liền với ước vọng về cuộc sống ẩn dật giản dị mà cao khiết, được thoát khỏi vòng danh lợi, để trả lại sự trong ngần cho nhân cách:
Làng xưa như mộng trong ngần
Can qua chưa dứt, yên phần mừng thay
Bao giờ lều cỏ núi mây
Pha trà nước suối, gối say đá mềm
Cao Bá Quát, giữa đời phong ba, cũng tìm thấy ở trà một khoảng yên tĩnh, một chút thư thái hiếm hoi. Hình ảnh người thi sĩ “hỏi lửa pha trà mới”, thong thả tựa gốc thông chờ ráng chiều buông, đủ làm hiện lên vóc dáng một trí sĩ biết mình, biết đời. Có lẽ vì thế, bậc quân tử ấy dễ dàng gác lại những khổ lụy của chữ tài, chữ mệnh, để an hưởng tuổi hưu già mà nhìn chuyện đời trôi qua nhẹ như lưu thủy hành vân:
Thư nhàn hỏi lửa pha trà mới
Thích thú tựa thông nhìn ráng sa
Chợt nghĩ về hưu vui thú ẩn
Một cần câu trúc chuyện đời qua
Nguyễn Khuyến, nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam, là người biết cách đan cài cảnh đời sống mộc mạc, với những tập tục gần gũi vào thơ. Trong một bài thơ không viết về trà cũng không viết về xuân, ông khéo léo khiến người ta liên tưởng đến không khí Tết xuân ở vùng quê Bắc Bộ, khắc họa đôi nét về nếp sống thôn dã, thanh tao:
Khi trà chuyên năm ba chén
Khi Kiều lẩy một đôi câu
Đời sống như thế nhẹ nhàng mà đầy sắc vị, thể hiện sự thanh nhã của một tâm hồn biết bằng lòng, vui thú với thực tại.
Đến với không gian thơ đương đại, nơi thời gian làm đổi thay tâm thế, trà vẫn đầy thi vị khi đồng hành cùng những tâm sự đời người.
Với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, trà mang một màu sắc khác. Bên cạnh tính thiền - triết, trà còn là nỗi xót xa, là lời tâm sự, là tiếng gọi cha của một trái tim ít nhiều thương tổn:
Thưa cha, con đã dâng trà
…
Chén trà con rót tràn niềm đắng cay
Phận con nhàu trọn lòng tay
Một câu thơ bạc một ngày vô ơn
Chén trà con có gì hơn
Mời cha rồi nuốt tủi hờn sau cha
Thưa cha con đã dâng trà
Sao cha im lặng như là bóng mây
Để hồn trà khuất đâu đây
Xác trà lạnh ngắt đổ đầy lòng con…
Trà ở đây là phương thức để kính lễ, đối thoại, giãi bày, ăn năn. Trà trở thành một thứ hương của ký ức, của nỗi day dứt mà ai lớn lên cũng từng cảm thấy, từng trải qua.
Trong một góc nhìn ngông nghênh mà lãng mạn khác, thi sĩ Phạm Lưu Đạt mời trăng uống trà lại khiến độc giả thư giãn, phiêu lãng và thích thú:
Gió đưa một thoáng hương lài
Tôi đem nhốt lại ngâm trà cho thơm
Đêm chờ trăng sáng sân sau
Mình tôi cùng với bình trà mời trăng
Hình ảnh nhà thơ và ánh trăng cùng uống trà ta đã gặp trong nhiều áng thơ cổ. Đó là nét đẹp của sự hòa hợp giữa con người và vũ trụ, của tâm hồn biết tìm tĩnh lặng trong cái thanh khiết của đất trời. Ở đây, Phạm Lưu Đạt vừa khéo léo kế thừa nét đẹp thi ca Á Đông, lại vừa trình hiện một hồn thơ thông minh, dí dỏm, giữa không gian nghệ thuật đầy ngẫu hứng và gần gũi.
Trong không khí trà xuân, ta lại bắt gặp những câu thơ trong trẻo của Phạm Thuận Thành, nơi trà không còn nặng nỗi đời, mà chỉ là thói quen giản đơn, chứa chan vẻ vui tươi giữa không gian bốn mùa thoáng mở và căn nhà ấm áp:
Mỗi sớm pha ấm trà
Niềm vui đến chật nhà
Hương bốn mùa gói lại
Gửi tặng người đường xa
Trà ở đây trở thành một cách giữ lại những mối nhân duyên thiện lành trong đời sống bận rộn.
Với Lò Cao Nhum, trà là sợi tơ giao duyên, là phép nhân của vấn vít sóng sánh một đêm thành chung chiêng thao thức một đời:
Hương trà thơm thao thức
Quyện vấn vít mãi thôi
Em nâng lời chén nước
Sóng sánh vỗ lòng tôi
Nhấp một ngụm thành hai
Nhấp hai ngụm thành mười
Một đêm trà gió thức
Chung chiêng lá trọn đời
Lời thơ thỏ thẻ nghe như tiếng trà rót nhẹ, nghe như khúc nhạc dịu của tâm hồn người thưởng trà. Từng câu, từng chữ dường như được xếp đặt cẩn trọng, gợi lên cảm giác thao thức, quyện hòa, như hương trà vương vấn trong không gian và kỉ niệm. Uống trà không phải là hành động đơn thuần nhấp một ngụm, nhấp hai ngụm, mà phải là hành trình đi từ thưởng thức đến chiêm nghiệm, đến lan tỏa, uống và chia cùng nhau những thanh thản và tĩnh lặng trong đời.
Hoàng Năng Trọng thì đưa trà vào cái nhìn xa xăm, làm thành một thước đo những giá trị lâu bền:
Ví không sánh chát từ xanh tóc
Đâu dễ dư hương đến bạc đầu
Trăm tuổi người đi trà ở lại
Khói sương lãng đãng để bền lâu
Con người có thể rời khỏi thế gian, nhưng văn hóa trà và những mối tâm giao thì còn ở lại: lẩn trong làn khói sớm, đọng trên tách gốm cổ, nương theo câu chuyện của bao thế hệ, thành di sản phi vật thể cho đời sau.
Trà không chỉ là dược vị của thi nhân. Nó thật sự là dược liệu quý cho mỗi người di dưỡng thân tâm, cần sự thanh lọc và minh triết. Bởi thế mà danh y Hải Thượng Lãn Ông đã đúc kết, kê đơn:
Bán dạ tam bôi tửu
Bình minh sổ trản trà
Nhất nhật cứ như thử
Lương y bất đáo gia
(Nửa đêm ba ly rượu
Bình minh một cử trà
Mỗi ngày đều như thế
Thầy thuốc chẳng đến nhà)
Đêm có rượu, sáng có trà, con người cứ thế điều độ, thanh thản. Rượu để mở lòng với người, trà để trở lại với mình. Giữ được sự quân bình ấy, mỗi ngày đều như thể ngày xuân, tự khắc trở nên tròn đầy.
Nâng những tách trà, ta bỗng thấy thanh âm của muôn đời vọng lại: từ tiếng thì thầm của bậc danh sĩ Nguyễn Trãi, tiếng thở dài ung dung của Cao Bá Quát, tiếng nói nghẹn của Nguyễn Quang Thiều, đến nụ mời hóm hỉnh cùng ánh trăng của Phạm Lưu Đạt… Tất cả gặp nhau trong hơi ấm của trà, tạo thành một cuộc kì ngộ vượt thời gian, khiến mùa xuân của hôm nay mang thêm dáng dấp của ngàn xưa.
Bởi thế, nâng chén trà cùng thi nhân, là nâng lên những tinh túy của đất trời và lòng người; kết nối ta với truyền thống, với trí tuệ, cốt cách của cha ông xưa và những rung động của con người hôm nay. Một hớp trà ấm đầu năm để lắng lại, để thấy lòng trong trẻo như xuân, thấy đời dịu dàng như xuân, thấy tâm hồn rộng mở cùng xuân, để đón hứng thêm những khoảng bình yên cho hành trình mới.

Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin