Khi kí ức không chỉ đến từ quá khứ

HOÀNG ĐĂNG KHOA 17:08, 14/05/2026

     1. Việt Bắc của tôi của Thăng Sắc (Nxb Hội Nhà văn, 2026) không “viết về kháng chiến” theo nghĩa quen thuộc. Không minh họa lịch sử, không quy hồi hào quang của quá khứ, cuốn sách làm lung lay bất an tư thế đứng nghiêm của kí ức.

     Nếu cần định danh, có lẽ nên gọi đây là một tác phẩm về đời sống bị lịch sử đi qua, ở đó con người trút bỏ lớp áo biểu tượng để về gần hơn với bản lai: những thân phận bị xô lệch, bị giằng co giữa các tình thế sống - yêu - tin tưởng - hoang mang.

     2. Nhan đề cuốn sách đã phơi lộ một tuyên bố thẩm mĩ. Không phải “Việt Bắc” như một khái niệm lịch sử trừu tượng, “đông cứng”, mà là “Việt Bắc của tôi”, tức một Việt Bắc đã bị/được cá nhân hóa, chủ quan hoá, hay nói cách khác, một Việt Bắc đã bị/được “rã đông” khỏi mặc định, kéo văng khỏi diễn ngôn một thời.

Nhà văn Thăng Sắc và nhà văn Đỗ Bích Thúy trong buổi ra mắt cuốn sách "Việt Bắc của tôi”.

     Việc xác lập cái nhìn “của tôi” này đồng thời mở ra một cuộc đối thoại ngầm giữa cái “ta” tập thể và cái “tôi” cá nhân. Nếu văn học sử thi truyền thống thường tạc dựng con người trong tâm thế “nhất tề” trước vận mệnh dân tộc, thì tác phẩm của Thăng Sắc lại chọn đứng về phía những xao động riêng tư. Ông không ngần ngại viết về những nỗi sợ, những phút yếu lòng hay những tình cảm nằm ngoài quỹ đạo chung. Sự đối lập này không nhằm phủ nhận “hằng số”, mà để khẳng định một chân lí giản dị: lịch sử vốn được đan dệt từ vô vàn mảnh ghép cá nhân đầy ưu tư và khác biệt. Chính những cái “tôi” bé nhỏ vô danh ấy đã đem lại cho tập truyện một chiều kích nhân văn, nhân bản, giúp ta chạm vào quá khứ bằng những rung cảm người nhất, đời thường nhất.

     Phải vậy chăng, đi suốt cuốn sách, ta gặp không nhiều “đại tự sự” theo nghĩa thông thường. Thay vào đó là những tiểu ngạch, vi mạch của đời sống. Mỗi lát cắt đều có thể định vị được trong từng truyện cụ thể: một đứa trẻ bú nhờ sữa người Tày; một ông “nghệ sĩ kháng chiến” tên Lài ghi chép thời cuộc; một mối tình giữa Hoa và Đăng; một cuộc đấu tố mà người bắn run tay (Việt Bắc của tôi); những kí ức gia đình đứt đoạn (Ông nội, Về cội); những phận người xô lệch (Thằng Biển, Ngã rẽ)…

     Lối viết của Thăng Sắc gợi nhắc đến quan điểm “lịch sử nhìn từ phía dưới”. Tức là thay vì soi chiếu hiện tồn qua “toàn cảnh”, “đại thể”, ông chọn đứng ở tầng đáy của đời sống. Ở đó, lịch sử không hiện ra như những quyết định mang tầm vóc vĩ mô, mà như cái đói, cái rét, những biến dạng của cơ thể, những đứt gãy trong quan hệ người - người… Nói cách khác, lịch sử đi vào đời sống không qua khẩu hiệu, mà qua những va đập trực tiếp lên thân phận.

     Sức nặng của những lát cắt, chi tiết nói trên còn được bảo chứng bởi một hệ điều tiết văn hóa vùng cao đậm đặc. Việt Bắc trong đây không chỉ là địa danh, không phải là một phông nền địa lí tĩnh tại, mà là một thực thể sống động với những tập quán, tâm lí đặc thù của người Tày, người Nùng. Triết lí sống “thuận theo tự nhiên”, tâm hồn mộc mạc nguyên sơ như đá núi, cách ứng xử trọng cái tình hơn cái lí, hay hơi ấm từ những nếp nhà sàn..., tất cả đóng vai trò như một bộ lọc cảm xúc. Nhờ vậy, những biến cố khốc liệt của thời đại khi đi qua không gian văn hóa này bỗng trở nên mềm mại, bao dung và giàu tính người, tính bản địa hơn.

     3. Đọc kĩ Việt Bắc của tôi, sẽ thấy đây không phải là sự tập hợp nhiều truyện riêng lẻ, ngẫu nhiên, lỏng lẻo. Cấu trúc của tập truyện khá chặt chẽ: các truyện vận hành như một trường kí ức liên thông.

 

     Nhân vật không chỉ xuất hiện trong một truyện rồi biến mất, mà hoặc lặp lại dưới dạng biến thể, hoặc được “vọng âm” qua những số phận khác, hoặc mang cùng một kiểu trải nghiệm. Đó là ông Lài (Việt Bắc của tôi), những người già mang kí ức (Ông nội), những người trở về hoặc lạc hướng (Ngã rẽ, Thằng Biển), những người sống với ám ảnh quá khứ (Người đợi sương, Đầu thai lạc)… Các nhân vật/ kiểu nhân vật này phái sinh như một “dạng sống tinh thần”. Điều này tạo được hiệu ứng thẩm mĩ: mỗi truyện không tự trị, đóng khép, mà thông trổ sang truyện khác, như những vòng sóng loang ra từ một tâm chấn chung: chiến tranh.

     Dĩ nhiên, không phải mọi truyện trong tập đều là truyện lịch sử/ chiến tranh theo nghĩa trực tiếp. Nhưng ngay cả ở những truyện tưởng như thuần đời sống/ hiện sinh, vẫn thấp thoáng những dư chấn của một quá khứ chưa khép lại.

     Theo đó, có thể nhận ra những motif xuyên suốt tập truyện: kí ức - cơ thể - sự thay đổi:

     Motif cơ thể bị lịch sử tác động: xuất hiện rõ ở các chi tiết như bú nhờ sữa, mất chân (Việt Bắc của tôi), lao động, đói, kiệt sức (Con trâu kỉ niệm, Con bò đen khoang trắng của lão Sự)… Cơ thể là nơi lịch sử in dấu trực tiếp nhất, không qua trung gian diễn ngôn hay lớp lọc ý thức hệ. Nếu trong văn học sử thi, cơ thể thường được nâng lên thành biểu tượng của sức mạnh, thì ở đây, nó hiện ra như một “bề mặt tổn thương”, nơi mà lịch sử để lại những vết thâm không thể tẩy xóa.

     Motif âm thanh - kí ức thính giác: hiển thị với tiếng sáo, tiếng súng (Việt Bắc của tôi), hay các âm thanh đời sống (Người đợi sương, Thằng Biển)… Âm thanh trở thành dạng kí ức dai dẳng hơn hình ảnh. Đáng chú ý, những âm thanh thường không tách biệt: tiếng sáo có thể vang lên trong không gian của tiếng súng, khiến kí ức không phân định rạch ròi giữa đời sống và chiến tranh, giữa cái đẹp và bạo lực.

     Motif ghi chép - bất lực của văn chương: thể hiện qua cuốn sổ bìa đỏ của ông Lài (Việt Bắc của tôi), hay hành vi nhớ - kể - hồi cố (Ông nội, Về cội)… Câu hỏi khơi vẫy đối thoại: Liệu có thể ghi lại lịch sử một cách trung thực không?

     Motif lệch hướng - sai quỹ đạo: “ngã rẽ” (Ngã rẽ), đời sống bên lề (Thằng Biển), tình cảm vượt khỏi khuôn mẫu (Hộ chiếu tình yêu)… Con người không đi theo quỹ đạo lịch sử, hay lối mòn quán tính, mà liên tục rẽ nhánh, li tâm.

     Motif trở về/ tìm cội: qua các truyện Về cội, Ông nội, hay dư âm trong Việt Bắc của tôi. Không “trở về” nào là nguyên vẹn, mà luôn đi kèm mất mát kí ức.

     Như vậy, Thăng Sắc kể lại lịch sử không theo tuyến tính, cũng không rơi vào tản mạn rời rạc. Ông chọn viết lịch sử như một mạng lưới kí ức chồng lớp.

     4. Lịch sử có những "hằng số” sự thật/ chân lí mà không ai có thể phủ nhận.

     Thăng Sắc để nhân vật phát biểu: “Cái bú nhờ sữa ấy là máu thịt của kháng chiến” (tr.14). Có nghĩa, kháng chiến là một mạng lưới trao đổi sinh tồn, nơi mà con người nuôi nhau bằng những gì nguyên sơ nhất. Sữa ở đây là dinh dưỡng, đồng thời là một dạng “liên kết sinh học” của cộng đồng. Những đứa trẻ bú nhờ dòng sữa của núi rừng "không chỉ lớn lên thành người, mà còn lớn lên thành kháng chiến” (tr.13).

     Tuy nhiên, diễn ngôn lịch sử dạng này trong tập truyện không nhiều. Thay vào đó là những diễn ngôn cá nhân mang cảm hứng giải thiêng.

     Cảnh đấu tố địa chủ có thể coi là trung tâm của trục giải thiêng những huyền thoại về kháng chiến: “Tiếng quát tháo xen tiếng khóc, tiếng gậy gộc thình thịch đập xuống đất làm bụi tung mù mịt”, "Lời tố như những mũi dao nhọn phóng ra tới tấp” (tr.34, 35). Ở đây, đám đông không còn là “quần chúng cách mạng” trong nghĩa lí tưởng hóa, mà là một khối cảm xúc hỗn loạn. “Bắn tên địa chủ này phải tốn ba viên đạn” (tr.36). Câu văn lạnh, gần như vô cảm. Nhưng chính sự lạnh đó cho thấy bạo lực đã trở thành một thủ tục, một thao tác. Mấy chị bần nông “tay gầy cầm súng chưa sõi cứ run bần bật” (tr.36). Bạo lực không còn được trình bày như một phạm trù đạo đức cần phán xét theo lối nhị nguyên (chính nghĩa/ phi nghĩa), mà như một trạng thái tâm lí tập thể, nơi cả nạn nhân lẫn người thực hiện đều bị cuốn vào. Chính vì vậy, bi kịch không dừng lại ở đối tượng bị trừng phạt, mà lan sang cả những chủ thể tưởng như đang nắm quyền phán xét.

     Tinh thần giải thiêng không chỉ có ở truyện Việt Bắc của tôi, mà còn có ở các truyện khác dưới dạng “giảm âm”. Theo đó, không ai có thể “vô can”, bất động, an toàn trong chiến tranh và hậu chiến cả.

    Trở lại với truyện Việt Bắc của tôi, ông Lài có lẽ là nhân vật thú vị hơn cả. Ông vừa là người trong cuộc, vừa là kẻ quan sát, vừa là một “nhà văn” đang cố ghi lại đời sống. Nhưng càng "ngứa nghề”, ông càng bất lực. Tiểu thuyết có tên Tiếng sáo rừng chiều mà ông nung nấu vĩnh viễn là file đời dự thảo. Chi tiết khi thấy Hoa và Đăng bên nhau, ông đứng lặng, “lúng túng lật cuốn sổ bìa đỏ nhưng chẳng ghi được nét nào” (tr.42) cho thấy giới hạn của việc “ghi chép đời sống”, của khả năng diễn đạt ngôn ngữ. Có những thứ không thể chuyển hóa thành văn bản, hoặc nếu có, thì sẽ rời xa bản chất. Như vậy, Thăng Sắc đã phản tư một cách thâm trầm về chính bản thân văn chương, về những đại ngôn kiểu như "nhà văn là người thư kí trung thành của thời đại”.

     Câu chuyện của Hoa và Đăng có thể gợi một motif quen thuộc: tình yêu vượt qua mất mát. Nhưng Thăng Sắc không khai thác nó theo hướng lãng mạn. Câu nói của Hoa “Cái chân có cụt thì vẫn là anh Đăng” (tr.41) là một tuyên ngôn về nhân tính. Nó từ chối định nghĩa con người bằng cơ thể, bằng chức năng, bằng “giá trị sử dụng”. Trong bối cảnh chiến tranh, nơi con người dễ bị quy về vai trò, câu nói này mang một ý nghĩa phản kháng âm thầm. Chiến tranh không chỉ phá hủy thân thể, mà còn đặt tình yêu vào một phép thử khắc nghiệt.

Như vậy, giải thiêng trong tập truyện không phải là báng bổ, đạp đổ, mà chỉ là làm xẹp độ căng của quả bóng diễn ngôn chính thống, để khơi thông dòng chảy đời sống bên dưới.

     5. Thăng Sắc chủ ý sử dụng ngôn ngữ giản dị và giọng kể “ngây thơ” như một chiến lược tự sự.

     Ngôn ngữ của tập truyện thiên về “mộc”. Câu văn ngắn, ít tu từ. Hình ảnh gần với cảm giác hơn là trang trí. Lời thoại mang tính khẩu ngữ, được cá tính hoá, số phận hoá sắc nét... Chính sự giản dị này của ngôn ngữ tạo ra độ tin cậy, nhẹ nhàng của văn bản. Những chi tiết nặng nề (như xử bắn, đấu tố, mất mát) không bị “kịch hóa”, mà hiện ra tự nhiên.

     Điểm nhìn trong truyện Việt Bắc của tôi là điểm nhìn "ngây thơ”, "bất toàn tri” của một đứa trẻ. Đây không phải là lựa chọn ngẫu nhiên. Nó tạo ra một khoảng cách: những gì người lớn xem là “bình thường” lại trở nên “kì lạ” qua con mắt trẻ thơ. Ví dụ, đứa trẻ không hiểu “đấu tố” là gì, nhưng "dâng lên một cảm giác kì lạ, vừa sợ hãi, vừa hồi hộp” (tr.34). “Không hiểu”, nghĩa là không bị ý thức hệ hóa. “Cảm giác”, nghĩa là thay thế cho diễn giải. Nhờ vậy, văn bản không rơi vào diễn ngôn tuyên truyền hoặc phê phán trực diện. Thay vào đó, nó mở ra một vùng mờ - nơi người đọc phát huy tối đa quyền năng thông diễn của mình trước những phức tạp của lịch sử. Tức Thăng Sắc không đứng về phía bất kì diễn ngôn nào muốn đơn giản hóa lịch sử.

     6. Việt Bắc của tôi không khép lại, không đúc kết bài học, không gửi gắm thông điệp. Bởi vì, lịch sử, khi đi qua con người, không bao giờ gọn gàng, mạch lạc, sáng rõ như trong sách giáo khoa. Và văn chương đúng nghĩa, luôn là cuốn sách giáo khoa không bao giờ chịu dán mình vào gáy.

Bằng cách từ chối những kết luận đóng băng, Việt Bắc của tôi đã trả kí ức về đúng trạng thái nguyên thủy của nó: một thực thể luôn cựa quậy và chưa bao giờ hoàn tất. Thăng Sắc không tìm cách hòa giải với quá khứ. Chính vì không “đứng nghiêm”, kí ức trong tập truyện này mới có thể “đi bộ” vào tâm trí người đọc hôm nay, cùng họ lắng nghe những tiếng thở giữa những khoảng trắng của lịch sử. Để suy tư. Để dự phóng. Bởi kí ức không chỉ đến từ quá khứ.

 

Nhà văn Nguyễn Chiến Thắng (bút danh Thăng Sắc) là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Đại sứ tại Algeria, Pháp và Vương quốc Campuchia. Đã xuất bản các tiểu thuyết Những ngày không em, Chú Tư - con là ai, Đi trong lốc xoáy, Ngụ cư, Láng giềng; các tập truyện ngắn Chớp mắt cùng số phận,Việt Bắc của tôi; tập ghi chép Chuyện kể của một đại sứ.