Ngày đoàn tụ

Nguyễn Bình Phương 14:52, 03/05/2026

Ở thị trấn tôi, cô Khang nổi tiếng là người đẹp, da cô trắng, tóc dài, môi căng mọng có vết cắn chỉ, xống mũi cao, thẳng và có một đồng tiền bên má trái mỗi khi cười.

Cô Khang mồ côi từ nhỏ, được ông bà Dĩnh nhận làm con nuôi từ khi mới một tuổi rưỡi, lớn lên thi vào trường sư phạm, làm cô giáo, lại được dạy học ngay thị trấn. Dân thị trấn bảo cô thuộc loại người lành tính, chưa bao giờ thấy cô cãi cọ hay khó chịu với ai. Ngoài những giờ lên lớp giảng bài cô Khang còn tham gia rất nhiệt tình vào công tác chi đoàn.

Minh họa: Thanh Hạnh
Minh họa: Thanh Hạnh

Nhiều anh con trai ở thị trấn và các vùng lân cận đổ xô đến tán tỉnh nhưng cô chẳng ưng ai, suốt ngày chỉ quanh quẩn với bố mẹ nuôi. Từ khi ông bà Dĩnh chết cô Khang thay đổi hẳn, hằng ngày hết giờ lên lớp là về nhà, không tham gia hoạt động Đoàn, không tiếp đón bạn bè, ngay cả khi còi báo động máy bay ném bom cũng chẳng ai biết cô có thèm xuống hầm trú ẩn hay không.

Mọi người kháo nhau đấy là do cô thương tiếc bố mẹ nuôi, lại do cả mặc cảm với cái số phận đơn độc của mình mà thành thế. Đùng một cái, cô Khang báo cáo với nhà trường được công khai quan hệ với một người con trai.

Người mà cô Khang chọn là chú Cần, bộ đội lái xe. Chú Cần vóc nhỏ nhưng hoạt bát nhanh nhẹn, hát hay đàn giỏi, nói chuyện rất có duyên, quê ở Hà Nội. Thoạt trông chú Cần có nét nhang nhác ông Dĩnh ngay cả giọng nói cũng giống, âm thanh đều đều, khi nghe thì không phân biệt được D với R, Ch với Tr. Cái chuyện chú Cần với cô Khang yêu nhau từ lúc nào thì hầu như chẳng ai biết trừ tôi, lúc ấy mới chín tuổi và đang là học sinh của cô Khang.

Tôi biết bởi vì nhà tôi là họ hàng xa với chú Cần. Những khi rỗi rãi chú thường xin phép đơn vị ra nhà tôi chơi.

Chú Cần hay hỏi tôi về cô Khang, hỏi rất nhiều và tôi thì hãnh diện trả lời tất cả những câu hỏi của chú. Được hai tổ chức đồng ý, chú Cần thường xuyên đến ở cùng với cô Khang, căn nhà vốn một thời vắng vẻ im lìm bỗng trở nên có sức sống, hàng xóm, bạn bè đến chơi liên tục. Cô Khang lại tham gia công tác đoàn một cách tích cực, xởi lởi như hồi còn ông bà Dĩnh.

Một năm sau, đơn vị của chú Cần được lệnh di chuyển vào Nam. Từ ngày chú Cần đi, cô Khang lại thay đổi, lặng lẽ hơn, ít tham gia công tác Đoàn hơn và kèm theo đó mấy ông dân quân thì xán đến nhiều hơn, nhưng đều bị cô tiếp đón lạnh nhạt.

Một năm, hai năm, rồi ba năm chú Cần vẫn bặt tin trong khi bao nhiêu người khuyên cô Khang nên xây dựng gia đình nhưng cô chỉ cười buồn buồn và lắc đầu, nước mắt rân rấn. Rồi cô Khang chết bất ngờ, cái chết của cô nhẹ nhàng chẳng đụng chạm phiền luỵ tới bất kỳ ai.

Một chiều, cô Khang cùng một người bạn thân duy nhất nghe xong bản tin chiến trận qua loa công cộng rồi tiễn bạn về và đóng cửa lại. Sáng hôm sau khi người bạn sang rủ cô đi sắm Tết mới phát hiện ra cô đã chết, nguyên nhân vì bị cảm. Một đám ma đơn giản diễn ra nhưng nó không nhẹ nhàng như sự ra đi của cô mà nặng trĩu nỗi tiếc thương của mọi người.

Lũ học trò chúng tôi không biết khóc nhưng cũng cắn chặt răng nhìn đi nơi khác khi người ta hạ quan tài của cô xuống huyệt. Rồi thầy hiệu phó đọc điếu văn, chỉ vài ba chục dòng ngắn gọn kể về quãng đời và đạo đức của cô.

Tôi nhớ đến dòng cuối, có nhắc đến chú Cần, người yêu, chồng chưa cưới của cô hiện đang chiến đấu ở trong Nam. Khi tên chú Cần được đọc lên thì mọi người thấy bó hương trên quan tài của cô Khang bỗng hực lên sau đó khói uốn lượn rối rít bay chéo lên trời.

Một bà già khẽ nói: "Khói bay về phía Nam". Mọi người rùng mình, lặng lẽ nhìn làn khói như nhìn bước chân cô Khang lướt qua trời xuân vào Nam tìm chồng. Đó là chiều hai mươi tám Tết, vài tháng trước khi đất nước thống nhất và những người đàn ông của thị trấn áo quần chỉnh tề trở về với gia đình, trong đó có chú Cần.

Sau này nghe chú Cần với bố mẹ tôi nói chuyện tôi mới biết giải phóng xong chú cần không về Hà Nội ngay mà chỉ viết thư báo cho gia đình biết rồi đi nhờ xe lên thẳng đây tìm cô Khang.

"Em không ngờ lại như thế này...", chú Cần vừa nói vừa khóc, khóc nức nở làm cho bố mẹ tôi khóc theo. Khi tĩnh tâm lại, chú tặng cho nhà tôi nhiều quà trong đó có một con búp bê to bằng đứa trẻ mới sinh, mắt xanh có thể nhắm mở được.

Tuy không nói ra nhưng cả nhà tôi đều biết đó là phần quà của cô Khang. Bố mẹ tôi sai tôi dắt chú ra thăm mộ cô Khang. Đứng trước ngôi mộ nhỏ, cỏ úa vàng, héo hắt, đầu chú Cần rũ xuống, quai hàm bạnh ra, mắt rực lên như bầu trời thường rực lên trước khi cơn giông tới.

Tôi đứng đằng sau chú, gần như không dám thở. Buổi trưa trời nắng và xanh trong đến mức mắt và miệng khô cong. Bóng chú Cần kéo dài ra choãi lên ngôi mộ sau đó co lại khi chú đứng dậy. Chú bảo với tôi chú sẽ không thể ở đây được và nhờ tôi giữ cho chú một vật.

Nói rồi chú trao cho tôi một gói nhỏ, vuông nhưng không nặng lắm. "Đúng hai mươi tám Tết thì cháu đem đốt trên mộ cô ấy hộ chú". Chú dặn vậy và ngay chiều tối hôm ấy chú khoác ba lô rời thị trấn, về Hà Nội.

Thời gian trôi qua trong niềm hân hoan tột cùng của cả dân tộc. Người ta dồn hết tiền của, tâm trí, niềm vui vào để tổ chức thật rầm rộ cái Tết toàn vẹn lãnh thổ đầu tiên sau bao nhiêu năm bị chia cắt. Chiều hai mươi tám Tết, khi ấy người ta đổ dồn hết ra chợ và lễ mễ xách về tất cả những cái gì có thể xách, với đủ màu sắc, hình dáng, với vẻ vui tươi có, nhàu nhĩ có, đăm chiêu tư lự cũng có. Tất cả diễn ra trong cơn mưa nho nhỏ của thời tiết cuối năm.

Lúc ấy tôi đang ngồi ở bậc thềm nhìn những làn mưa bụi buông trùng điệp xuống từ cái bầu trời xám màu pha chút gió se se lạnh, lòng dạ bấn bíu với những dự tính cho cuộc đi xa sắp tới thì đột nhiên tôi nhìn thấy một người con gái mờ nhạt, lững thững đi từ trong làn mưa ra, tiến về phía mình.

Tôi nhìn kỹ rồi bỗng nhiên gai ốc nổi khắp người: cô Khang. Trong khoảnh khắc im lặng sững sờ, thi thoảng vọng lại vài ba tiếng pháo đì đẹt xa xa nhoà nhạt, rụt rè. Cô Khang đi thẳng về phía cổng nhà tôi, tôi nín lặng, gần như không dám thở bởi vì khuôn mặt cô lúc đó nó lạ kỳ đến mức bất giác tôi nổi da gà.

Mặt cô hồng lên như cánh đào, hai mắt long lanh sáng, những tia sáng mảnh dẻ bắn ra, choi chói mà chẳng nhằm vào điểm nào, tuồng như nó là một ngọn đèn để rẽ mưa cho bước chân biết nơi cao thấp mà đặt xuống. Tôi sực nhớ, chạy vào lấy cái gói chú Cần gửi khi xưa ra và thấy cái gói nóng rực lên, chúng cựa quậy, vùng vằng vì bị nắm quá chặt.

Cô Khang nhìn tôi chờ đợi còn tôi sau khi hết cơn sửng sốt liền cầm chiếc bật lửa đi một mạch ra bãi tha ma của thị trấn. Cô Khang đi theo tôi, không phải đi mà lướt nhẹ nhàng, vùn vụt. Tôi mở cái gói ra và sững sờ bởi vì trong gói đó chỉ có một chiếc khăn thêu hai bông hoa đào, một bức ảnh trắng đen chụp chú Cần đang đứng trước đầu xe chiếc ô tô gài kín lá nguỵ trang, sau bức ảnh có dòng chữ: "Gửi vợ chưa cưới của anh. Nhớ em".

Dòng chữ viết bằng mực cửu long xanh nhạt hơi nhòe với nét bút thô, cứng, rắn rỏi. Tôi nghe tiếng cô Khang thở dài đằng sau, tiếng thở não nề, buồn thảm, day dứt, liền vội vã châm lửa đốt. Chiếc khăn và bức ảnh giãy lên mấy cái rồi chìm vào ngọn lửa màu vàng pha chút xanh lam.

Mưa bụi cuối năm giãn ra, lùi bước cho ngọn lửa làm cái công việc thiêng liêng của nó và gió dào lên nghiến ngấu cái gì đó. Khi ngọn lửa cuối cùng ngã rạp xuống, tôi quay lại thì không thấy cô Khang đâu nữa, chỉ có những làn mưa lay phay nhè nhẹ giăng bốn bề.

Ngày đất nước đoàn tụ người ta nói chuyện vui nhưng tôi nghĩ có những chuyện buồn cần được nhớ lại, bởi vì...