Mấy chục năm đã trôi qua nhưng cứ mỗi dịp Tết đến là biết bao ký ức lại ùa về trong tâm trí tôi. Thời cuộc đã đổi thay, đời sống đã khá hơn nhiều mà lạ thay tôi lại cứ luôn nhớ, luôn ước ao được trở về với những cái Tết ngày xưa.
![]() |
Những cái Tết của năm bảy mươi thế kỷ trước, chị em tôi luôn háo hức mong chờ. Ngày ấy cả làng cả bản đều đói nghèo như nhau. Trẻ con mong Tết về là để được ăn thịt, bánh chưng và nhiều món ngon. Nhưng niềm vui thích nhất của tôi ngày ấy là được theo mẹ về quê thăm nhà ngoại. Đó là một phong tục mà người Tày quê tôi gọi là “pây tái”, dịch ra tiếng phổ thông là “đi ngoại”.
Nhà ngoại tôi ở tận một thung lũng xa xôi, qua rất nhiều đèo dốc, đá tai mèo lởm chởm nên phải cả buổi đường cuốc bộ mới tới. Vậy mà mấy chị em tôi vẫn thích theo mẹ về quê.
Cái cảnh leo núi, luồn rừng, sơ sểnh là trượt ngã nhưng chúng tôi đâu có sợ. Cái cảm giác vừa thở phì phò vừa nghe chim muông ca hát trong gió xuân thì thầm, ấm áp làm tâm hồn thơ trẻ chúng tôi như bay lên tận trời xanh.
Bà ngoại tôi đã già, những vết chân chim khắc khổ như ghi lại bao nỗi vất vả nhọc nhằn trên khuôn mặt già nua theo năm tháng nhìn thật thương. Bà kể ông mất từ hồi mẹ tôi mới lên ba tuổi, bà một mình sống trong ngôi nhà xiêu vẹo, quanh năm trồng mố, tra ngô nuôi các con trưởng thành. Rồi bà lại kể về những tháng ngày đầm ấm khi các con còn quây quần bên bếp lửa…
Năm nào chúng tôi đến thăm, bà cũng nhắc đi nhắc lại những câu chuyện quen thuộc ấy nhưng mà chúng tôi vẫn nghe không biết chán. Còn với bà, những ngày “pây tái” của mẹ con tôi dường như làm bà được sống lại những tháng ngày tươi đẹp nhất. Đôi má nhăn nheo của bà như hồng hào, tươi tắn lên trong ánh lửa bếp bập bùng. Tôi chợt thấy thương bà những lúc một mình một bóng ngồi dựa cầu thang mong con, chờ cháu.
Thường thì ngay từ trước Tết, mẹ tôi đã chuẩn bị đầy đủ mọi thứ để mùng Hai là cả nhà về thăm bà ngoại. Chả biết tục lệ “pây tái”người quê tôi có từ bao giờ nhưng con gái đi lấy chồng thì ngày mùng Hai Tết là phải về báo hiếu ông bà tổ tiên bên ngoại.
Mẹ tôi kể đó là một thứ quy định truyền miệng. Nếu vợ chồng mới cưới chưa có con là phải có cặp gà trống thiến, chục phong bánh khảo, cặp bánh chưng và ít kẹo bánh dâng lên ban thờ để các cụ chứng giám tấm lòng thơm thảo của con gái, con rể.
Khi có con, về ngoại chỉ cần một con gà thiến và tùy điều kiện gia đình kèm theo ít bánh trái. Ai có anh chị em ở quê, ngày mùng Hai cũng phải sang thăm hỏi từng nhà như cách gắn kết tình thân.
Người miền núi quê tôi con gái đi lấy chồng, luôn phải phụng sự nhà chồng quanh năm nên rất ít có dịp về bên ngoại. Người nào hay về sẽ bị mọi người chê trách là trốn việc nhà chồng.
Chỉ có dịp mồng Hai Tết mới được về bên ngoại thoải mái. Những bố mẹ chồng khó tính và khắt khe nhất cũng không ngăn cấm con dâu. Vì vậy, những người phụ nữ lấy chồng xa rất mong đến ngày “pây tái”. Những ngày này, lũ trẻ con chúng tôi còn vui hơn cả mẹ. Cứ tưởng tượng ra những bộ quần áo xúng xính mẹ mới mua, những phong bao lì xì đỏ chót, bàn chân tha hồ chạy nhảy vui đùa trên đường về quê thì thật thích vô cùng.
Những ngày giáp Tết, mẹ dặn mấy chị em năm mới không được cãi chửi nhau, chỉ được nói lời hay ý đẹp để tránh rông cả năm. Chúng tôi chả biết rông là gì nhưng nghe lời mẹ khôngdám tranh giành cãi cọ. Giờ nghĩ lại không khỏi bật cười vì lời doạ của người lớn thật hiệu nghiệm, chí ít thì mấy ngày Tết bố mẹ cũng được yên thân hơn với chị em tôi.
Thời ấy cả xã tôi chưa nhà nào có xe máy, dọc đường đi họa hoằn mới gặp một người đi xe đạp thồ đôi gà thiến và ít quà bánh trên đường. Những người đi bộ, tay xách nách mang, gồng gồng gánh gánh trong ngày “pây tát” thì rất đông. Tiếng cười nói, chào hỏi nhau rộn ràng khắp rừng xa, núi thẳm.
Tôi nhớ nhất năm “pây tái” cuối cùng về thăm bà ngoại. Mắt bà đã mờ, tai đã nặng nhưng từ xa bà đã nhận ra giọng nói cười của mấy chị em tôi. Chúng tôi tranh nhau trèo lên cầu thang vào nhà bà. Bữa cơm sum họp mừng năm mới ấy được bà và mẹ tôi chuẩn bị rất ngon. Cả nhà ngồi quây quần chúc tụng nhau thật ấm cúng vui vẻ.
Lúc chia tay, tôi thoáng thấy bà đứng trên cầu thang nhìn theo chúng tôi, nước mắt lưng tròng. Bàn tay gầy guộc, vẫy vẫy theo chúng tôi cứ in hình mãi trên vòm trời xa xăm của quê ngoại đầy mến thương. Tết năm sau chúng tôi không còn được gặp bà nữa. Bà đã vĩnh viễn về với miền mây trắng.
Nhiều chục năm đã qua, cảnh quê tôi đã khác, đường đi lối lại đã được trải bê tông rộng rãi, xe máy,ô tô đi lại thuận tiện, người đi bộ ít dần. Nhưng lòng tôi vẫn âm thầm tiếc nuối một thời xa cùng bố mẹ “pây tái” trong một niềm yêu thương không sao tả xiết. Nhớ bóng bà liêu xiêu dưới mái cọ cũ kỹ, rêu phong. Ước gì thời gian quay trở lại để được cùng bố mẹ bước đi trên con đường núi đồi đầy cỏ cây, chim chóc, những nụ cười và câu chào thân thương của dân bản.
Có lẽ ngày hôm nay, do cuộc sống nhiều thay đổi, người Tày quê tôi không quá câu nệ về những quy định xưa nữa, nhưng trong lòng tôi, tục “pây tái” vẫn còn sống mãi với thời gian.








Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin