Những nhà thơ Mỹ viết về Việt Nam

Nhiều tác giả 14:13, 25/02/2026

Sau năm 1975, nhiều nhà thơ Mỹ đã tìm đến Việt Nam. Họ muốn tận mắt nhìn thấy đất nước này và cảm nhận về con người Việt Nam. Một lý do vô cùng quan trọng cho những chuyến đi của họ đến Việt Nam là đi tìm câu trả lời cho nước Mỹ ‘’Vì sao một dân tộc nhỏ bé như vậy lại chiến thắng nước Mỹ’’. Và họ ‘’đã phát hiện ra một nền văn hóa’’. Đấy cũng là lúc họ phát hiện ra sức mạnh của dân tộc Việt Nam.

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu thơ của 4 nhà thơ Mỹ viết về Việt Nam. Hai trong số họ là cựu binh Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam. Ngày 22 tháng 09 năm 2024, Tổng bí thư Tô Lâm đã thay mặt Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Hữu Nghị của Nhà nước Việt Nam cho họ theo đề xuất của Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là nhà thơ cựu binh Mỹ Kevin Bowen và Bruce Weigl.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chọn và giới thiệu

 

 

KEVIN BOWEN

 

Chơi bóng rổ với người Việt

(Tặng Nguyễn Quang Sáng)

 

Một chiều xa trong chiến tranh

Khi chúng ta đang rạp mình phục kích

Những người đàn ông, đàn bà

Kẻ thù của chúng ta và trâu bò của họ

Hòa lẫn vào cây cỏ đất đai

 

Lúc đó chúng ta chẳng bao giờ nghĩ tới

Người đàn ông tóc hoa râm đi dép

Chiều nay đến ngồi dưới mái nhà ta

Hút thuốc lá Gô-loa

Và uống bia nhãn Mỹ

 

Cơn ho chiều cắt ngang câu chuyện

Khi ông kể về một ngày kháng chiến

Năm 1954

Ông đã làm ra sao để đánh lừa lính Pháp

 

Giờ ông đến gõ cửa nhà ta

Gọi chúng ta ra sân chơi vài đường bóng rổ

Sau một hồi ông vụng về, bỡ ngỡ

Những đường bóng gọn gàng tới đích

                                    đẹp làm sao

 

 

Ông nâng chân trái lên

Hai cánh tay lượn từ sau ra trước

Quả bóng bay theo quỹ đạo cầu vồng

Một, hai, ba... rồi mười lần trúng đích.

 

Chúng ta đứng nhìn ông im lặng

Quần soóc, áo phông, dép, tóc hoa râm

Ông nhìn chúng ta mỉm cười

Đó là món quà để con người hạ súng

Như ông đã cười bên chín nhánh Cửu Long

Và ở những nơi khác nữa chúng ta nghe

Lời ông thì thầm như thở

Còn có thể thắng thêm vài quả nữa.

(Nguyễn Quang Thiều dịch)

 

 

 

BRUCE WEIGL

 

Lời thơ tặng Mẹ Nguyễn Thị Vẻ

(Viết thay cho Nguyễn Thị Hạnh Weigl)

 

Được sinh ra trong văn hóa lúa Hà Nam

đầu tiên là đất

thứ hai là nước

thứ ba là những ngày dài còng lưng dưới mặt trời

thứ tư là thóc giống

như cuộc đời Mẹ đã bắt đầu

dưới bầu trời vần vũ của chiến tranh

Rồi Mẹ như cây mạ

sẵn sàng cho số phận bứng lên

từ mảnh ruộng Mẹ đã được gieo

để lại được cấy xuống

trong hàng hàng những người sống sót

Mẹ vươn lên từ bùn, Mẹ vươn lên trong bão táp

 

Dậy thì khi lúa trổ đòng

bóng tối hậm hực muốn nhấn chìm vẻ đẹp

Mẹ vẫn rì rào xanh mướt xanh

tự do chảy qua những cánh đồng

rễ bám đất cưu mang đòng nặng hạt

 

Khi lúa chín, Mẹ hái gặt điều thiêng liêng nhất

của đời mình bằng tiếng hát

bằng yêu thương sâu thẳm trong tim

bằng nước mắt, tiếng cười ngày làm mẹ

 

Nhưng - số phận chia lìa hai ngả

Mẹ lặng lẽ gặt mình thành gốc rạ

cô liêu trên đồng trống tái màu

 

Giờ đây Mẹ trở về thóc giống

để chúng con cùng nâng niu, cất giữ, gieo trồng

để những hạt-gạo-Mẹ chúng con ăn vào cơ thể

lại trổ đòng

lại xanh mướt xanh.

(Nguyễn Phan Quế Mai dịch)

 

 

SAM HAMILL

 

Không đến được Hà Nội

 

Tắc ở sân bay Narita, tôi có hàng giờ

ngẫm nghĩ về một nhà thơ ở Việt Nam

người đã “bảo vệ nỗi buồn” cho ngôi làng

                                                 của mình,

người mà nỗi đau trở lại giống như con dao

từ bài thơ này đến bài thơ khác.

 

Nhân viên đeo găng tay trắng

tại Narita lạnh lùng nói:

“Ngài không thể đi mà không có thị thực. Xin lỗi ngài, luật quy định

ngài phải có thị thực”.

Không có chút ánh sáng nào trong cặp mắt

                                                    anh ta.

 

Khi Garcia Lorca trở lại Tây Ban Nha,

ông ấy cũng làm vậy để

bảo vệ nụ cười của mình. Nụ cười của Thiều,

mang đậm nỗi buồn và vẻ đẹp,

là nụ cười đáng để bảo vệ

 

Tôi lấy lại hộ chiếu

từ đôi bàn tay đeo găng trắng

và không nói gì cả. Liệu có thể nói gì

với một nhân viên bất động mà nụ cười

giống như một con ếch đang nuốt một con ruồi.

 

Tôi sẽ không đến Hà Nội

Tôi sẽ không nhìn thấy nụ cười mà tôi

                                          muốn nhìn,

ánh sáng sâu thẳm của đôi mắt

có rất ít niềm vui

nhưng lại nói lên rất nhiều điều.

 

Tôi nghe thấy tiếng ồn ã của phố phường

                                                  bận rộn,

mùi khói của những xiên thịt nướng

được bán dọc bên đường. Nhưng tôi

                                         sẽ không phải

chịu đựng cái nóng ẩm ướt ngột ngạt.

Tôi có hàng giờ để chờ đợi

 

trước khi bay trở lại Mỹ.

Tôi thức dậy sau một giấc mơ

thấy mình ngồi trên một chiếc ghế sân bay,

lưng đau nhừ, chân tê cứng, khát khao

một thành phố tôi hiếm khi nhìn thấy.

 

 

Mệt mỏi, cảm thấy già cỗi như rác,

Tôi miễn cưỡng lên máy bay, và đón chào

bình minh từ độ cao 12.000 mét,

đọc những vần thơ Nguyễn Quang Thiều viết về

                                                     bình minh

hít thở với hai lá phổi hồng,

một ở phía Tây, một ở phía Đông.

(Ngân Phương dịch)

 

 

FRED MARCHANT

 

Bức ảnh chụp chung ở Văn Miếu

 

1.

Nhà thơ ấy đã từng

Sống trên con đường lửa cháy

               *

Người ca sĩ hiện lên giữa khói

Giữ chúng tôi ở lại

Người đòi cái chết trả lại những người bạn

Người hát những tình ca dang dở

Người nói với tôi bằng hơi thở:

- để viết một cuốn sử

Anh hãy mở mắt nhìn thế giới

Và để tìm thơ

Anh phải nhìn bằng trái tim đau khổ

 

2.

Nhà thơ ấy hát những lời ru của mẹ

                    *

Anh mang đến cho chúng tôi

Hoa hồng, nho tươi và những bài hát

Và một ca sĩ

Mang giọng của những bà mẹ

Thẳm sâu trong núi rừng phương Bắc

Mênh mông trên cánh đồng phía Đông

 

Những câu hát dịu dàng chảy mãi

Trong đêm dài và sâu

Từ đó vọng lên những tháng năm khốc liệt

Anh sống dưới mái tăng căng dọc đường mòn

 

3.

Nhà thơ ấy sống trong rừng phi lao ven biển

                     *

Khi chúng tôi đi qua chiếc cầu

Sau chiến tranh chưa kịp sửa

Chúng tôi bỗng nghe tiếng trống

Vọng về, đôi mắt rưng rưng

Và nhà thơ ấy biết

Những nguồn nước con sông sinh tự nơi nào

Nhà thơ ấy biết những ngọn đèn

Thao thức trên thuyền như hồn người không ngủ

Nhà thơ ấy thì thầm những gì anh thấu cảm

Anh có những nỗi niềm đau trong ngực chúng tôi

 

4.

Nhà thơ ấy đặt chúng tôi vào trong cơn bão

                         *

Anh dẫn chúng tôi đến ngôi nhà đá

Quanh chúng tôi những lồng chứa tê tê và nhím

Quanh chúng tôi lươn, cá đang bơi

Quanh chúng tôi cua giơ càng bò hối hả

 

Và khi vầng trăng tái đỏ

Đi qua miệng vực

Anh nói: chúng ta phải đứng dậy

Chỉ để lại những ngôn từ rực sáng ở phía sau

 

5.

Nhà thơ ấy đưa chúng tôi về phía bên kia

                          *

Anh chỉ cho chúng tôi hươu sừng đen của núi

Anh chỉ cho chúng tôi những nghĩa trang im lặng

Nơi nằm lại những nhà thơ của núi, của rừng

Anh chỉ cho chúng tôi sen hồng trong những

                                                   hố bom xưa

“Đấy thiên nhiên, thiên nhiên diệu kỳ, bạn ơi

                                                      hãy viết”

 

6.

Nhà thơ ấy có lần trong hố bom sâu

Đã chạm vào cái chết

             *

Chị ôm người bạn

Và đôi mắt bạn mình

Chỉ còn là hai hốc tối mênh mông

Chị dùng mọi ngôn từ còn lại

Kể những chuyện chị nghe từ thuở chín, mười

Như thể người yêu trong vòng tay chị

Như thể là đứa con của chị

Như thể bấu trời chứa đầy cái chốt

Xé nát lá xanh trên đầu

Tất cả đã thành thơ

 

7.

Chúng tôi là những kẻ

May mắn trong cuộc đời

Được sống giữa những nhà thơ ấy

Họ vẫn sống, vẫn khoan thai

Vẫn chiến đấu không nguôi với những ngôn từ

(Nguyễn Quang Thiều dịch)