Sau năm 1975, nhiều nhà thơ Mỹ đã tìm đến Việt Nam. Họ muốn tận mắt nhìn thấy đất nước này và cảm nhận về con người Việt Nam. Một lý do vô cùng quan trọng cho những chuyến đi của họ đến Việt Nam là đi tìm câu trả lời cho nước Mỹ ‘’Vì sao một dân tộc nhỏ bé như vậy lại chiến thắng nước Mỹ’’. Và họ ‘’đã phát hiện ra một nền văn hóa’’. Đấy cũng là lúc họ phát hiện ra sức mạnh của dân tộc Việt Nam.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu thơ của 4 nhà thơ Mỹ viết về Việt Nam. Hai trong số họ là cựu binh Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam. Ngày 22 tháng 09 năm 2024, Tổng bí thư Tô Lâm đã thay mặt Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Hữu Nghị của Nhà nước Việt Nam cho họ theo đề xuất của Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là nhà thơ cựu binh Mỹ Kevin Bowen và Bruce Weigl.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chọn và giới thiệu
![]() |
KEVIN BOWEN
Chơi bóng rổ với người Việt
(Tặng Nguyễn Quang Sáng)
Một chiều xa trong chiến tranh
Khi chúng ta đang rạp mình phục kích
Những người đàn ông, đàn bà
Kẻ thù của chúng ta và trâu bò của họ
Hòa lẫn vào cây cỏ đất đai
Lúc đó chúng ta chẳng bao giờ nghĩ tới
Người đàn ông tóc hoa râm đi dép
Chiều nay đến ngồi dưới mái nhà ta
Hút thuốc lá Gô-loa
Và uống bia nhãn Mỹ
Cơn ho chiều cắt ngang câu chuyện
Khi ông kể về một ngày kháng chiến
Năm 1954
Ông đã làm ra sao để đánh lừa lính Pháp
Giờ ông đến gõ cửa nhà ta
Gọi chúng ta ra sân chơi vài đường bóng rổ
Sau một hồi ông vụng về, bỡ ngỡ
Những đường bóng gọn gàng tới đích
đẹp làm sao
Ông nâng chân trái lên
Hai cánh tay lượn từ sau ra trước
Quả bóng bay theo quỹ đạo cầu vồng
Một, hai, ba... rồi mười lần trúng đích.
Chúng ta đứng nhìn ông im lặng
Quần soóc, áo phông, dép, tóc hoa râm
Ông nhìn chúng ta mỉm cười
Đó là món quà để con người hạ súng
Như ông đã cười bên chín nhánh Cửu Long
Và ở những nơi khác nữa chúng ta nghe
Lời ông thì thầm như thở
Còn có thể thắng thêm vài quả nữa.
(Nguyễn Quang Thiều dịch)
![]() |
BRUCE WEIGL
Lời thơ tặng Mẹ Nguyễn Thị Vẻ
(Viết thay cho Nguyễn Thị Hạnh Weigl)
Được sinh ra trong văn hóa lúa Hà Nam
đầu tiên là đất
thứ hai là nước
thứ ba là những ngày dài còng lưng dưới mặt trời
thứ tư là thóc giống
như cuộc đời Mẹ đã bắt đầu
dưới bầu trời vần vũ của chiến tranh
Rồi Mẹ như cây mạ
sẵn sàng cho số phận bứng lên
từ mảnh ruộng Mẹ đã được gieo
để lại được cấy xuống
trong hàng hàng những người sống sót
Mẹ vươn lên từ bùn, Mẹ vươn lên trong bão táp
Dậy thì khi lúa trổ đòng
bóng tối hậm hực muốn nhấn chìm vẻ đẹp
Mẹ vẫn rì rào xanh mướt xanh
tự do chảy qua những cánh đồng
rễ bám đất cưu mang đòng nặng hạt
Khi lúa chín, Mẹ hái gặt điều thiêng liêng nhất
của đời mình bằng tiếng hát
bằng yêu thương sâu thẳm trong tim
bằng nước mắt, tiếng cười ngày làm mẹ
Nhưng - số phận chia lìa hai ngả
Mẹ lặng lẽ gặt mình thành gốc rạ
cô liêu trên đồng trống tái màu
Giờ đây Mẹ trở về thóc giống
để chúng con cùng nâng niu, cất giữ, gieo trồng
để những hạt-gạo-Mẹ chúng con ăn vào cơ thể
lại trổ đòng
lại xanh mướt xanh.
(Nguyễn Phan Quế Mai dịch)
![]() |
SAM HAMILL
Không đến được Hà Nội
Tắc ở sân bay Narita, tôi có hàng giờ
ngẫm nghĩ về một nhà thơ ở Việt Nam
người đã “bảo vệ nỗi buồn” cho ngôi làng
của mình,
người mà nỗi đau trở lại giống như con dao
từ bài thơ này đến bài thơ khác.
Nhân viên đeo găng tay trắng
tại Narita lạnh lùng nói:
“Ngài không thể đi mà không có thị thực. Xin lỗi ngài, luật quy định
ngài phải có thị thực”.
Không có chút ánh sáng nào trong cặp mắt
anh ta.
Khi Garcia Lorca trở lại Tây Ban Nha,
ông ấy cũng làm vậy để
bảo vệ nụ cười của mình. Nụ cười của Thiều,
mang đậm nỗi buồn và vẻ đẹp,
là nụ cười đáng để bảo vệ
Tôi lấy lại hộ chiếu
từ đôi bàn tay đeo găng trắng
và không nói gì cả. Liệu có thể nói gì
với một nhân viên bất động mà nụ cười
giống như một con ếch đang nuốt một con ruồi.
Tôi sẽ không đến Hà Nội
Tôi sẽ không nhìn thấy nụ cười mà tôi
muốn nhìn,
ánh sáng sâu thẳm của đôi mắt
có rất ít niềm vui
nhưng lại nói lên rất nhiều điều.
Tôi nghe thấy tiếng ồn ã của phố phường
bận rộn,
mùi khói của những xiên thịt nướng
được bán dọc bên đường. Nhưng tôi
sẽ không phải
chịu đựng cái nóng ẩm ướt ngột ngạt.
Tôi có hàng giờ để chờ đợi
trước khi bay trở lại Mỹ.
Tôi thức dậy sau một giấc mơ
thấy mình ngồi trên một chiếc ghế sân bay,
lưng đau nhừ, chân tê cứng, khát khao
một thành phố tôi hiếm khi nhìn thấy.
Mệt mỏi, cảm thấy già cỗi như rác,
Tôi miễn cưỡng lên máy bay, và đón chào
bình minh từ độ cao 12.000 mét,
đọc những vần thơ Nguyễn Quang Thiều viết về
bình minh
hít thở với hai lá phổi hồng,
một ở phía Tây, một ở phía Đông.
(Ngân Phương dịch)
![]() |
FRED MARCHANT
Bức ảnh chụp chung ở Văn Miếu
1.
Nhà thơ ấy đã từng
Sống trên con đường lửa cháy
*
Người ca sĩ hiện lên giữa khói
Giữ chúng tôi ở lại
Người đòi cái chết trả lại những người bạn
Người hát những tình ca dang dở
Người nói với tôi bằng hơi thở:
- để viết một cuốn sử
Anh hãy mở mắt nhìn thế giới
Và để tìm thơ
Anh phải nhìn bằng trái tim đau khổ
2.
Nhà thơ ấy hát những lời ru của mẹ
*
Anh mang đến cho chúng tôi
Hoa hồng, nho tươi và những bài hát
Và một ca sĩ
Mang giọng của những bà mẹ
Thẳm sâu trong núi rừng phương Bắc
Mênh mông trên cánh đồng phía Đông
Những câu hát dịu dàng chảy mãi
Trong đêm dài và sâu
Từ đó vọng lên những tháng năm khốc liệt
Anh sống dưới mái tăng căng dọc đường mòn
3.
Nhà thơ ấy sống trong rừng phi lao ven biển
*
Khi chúng tôi đi qua chiếc cầu
Sau chiến tranh chưa kịp sửa
Chúng tôi bỗng nghe tiếng trống
Vọng về, đôi mắt rưng rưng
Và nhà thơ ấy biết
Những nguồn nước con sông sinh tự nơi nào
Nhà thơ ấy biết những ngọn đèn
Thao thức trên thuyền như hồn người không ngủ
Nhà thơ ấy thì thầm những gì anh thấu cảm
Anh có những nỗi niềm đau trong ngực chúng tôi
4.
Nhà thơ ấy đặt chúng tôi vào trong cơn bão
*
Anh dẫn chúng tôi đến ngôi nhà đá
Quanh chúng tôi những lồng chứa tê tê và nhím
Quanh chúng tôi lươn, cá đang bơi
Quanh chúng tôi cua giơ càng bò hối hả
Và khi vầng trăng tái đỏ
Đi qua miệng vực
Anh nói: chúng ta phải đứng dậy
Chỉ để lại những ngôn từ rực sáng ở phía sau
5.
Nhà thơ ấy đưa chúng tôi về phía bên kia
*
Anh chỉ cho chúng tôi hươu sừng đen của núi
Anh chỉ cho chúng tôi những nghĩa trang im lặng
Nơi nằm lại những nhà thơ của núi, của rừng
Anh chỉ cho chúng tôi sen hồng trong những
hố bom xưa
“Đấy thiên nhiên, thiên nhiên diệu kỳ, bạn ơi
hãy viết”
6.
Nhà thơ ấy có lần trong hố bom sâu
Đã chạm vào cái chết
*
Chị ôm người bạn
Và đôi mắt bạn mình
Chỉ còn là hai hốc tối mênh mông
Chị dùng mọi ngôn từ còn lại
Kể những chuyện chị nghe từ thuở chín, mười
Như thể người yêu trong vòng tay chị
Như thể là đứa con của chị
Như thể bấu trời chứa đầy cái chốt
Xé nát lá xanh trên đầu
Tất cả đã thành thơ
7.
Chúng tôi là những kẻ
May mắn trong cuộc đời
Được sống giữa những nhà thơ ấy
Họ vẫn sống, vẫn khoan thai
Vẫn chiến đấu không nguôi với những ngôn từ
(Nguyễn Quang Thiều dịch)











Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin