Hát ví - Tiếng ca trữ tình của người Tày Định Hóa

Hải Yến 10:15, 03/03/2026

Với 17 dân tộc anh em Tày, Nùng, Dao, Sán Chay, Kinh… cùng chung sống, huyện Định Hóa (cũ) có sự đa dạng và giàu bản sắc văn hóa truyền thống đặc sắc như: Dân ca, dân vũ, lễ hội lồng tồng, hát then của người Tày; hát Sấng cọ, múa Tắc xình của người Sán Chay; hát Pả dung của người Dao... 

Nét văn hóa Hát ví của dân tộc Tày, Nùng
Hát ví - Nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Tày, Nùng.

Trên mảnh đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa này, trải qua nhiều thế kỉ, nhân dân nơi đây nhiều đời nối tiếp nhau đã tiếp nhận, sáng tạo và giữ gìn một làn điệu dân ca độc đáo là hát ví. Đây là hình thức văn nghệ giải trí của người nông dân lao động chủ yếu ở thôn quê, nhằm giải tỏa, làm dịu bớt sự mệt mỏi, căng thẳng sau những buổi lao động, giúp con người sống và làm việc có hiệu quả hơn.    

Các nhà nghiên cứu, các nghệ nhân, các ca nương ở Định Hóa đã có sự phân loại hát ví.

Khi phân loại, họ đã dựa vào các khái niệm đã được nhiều đời sử dụng trong sli, lượn của người Tày, người Nùng bản địa. Vì vậy, hát ví được chia ra nhiều nội dung, như: Ví kết bạn, ví đôi ta, ví nài, ví chúc, ví mừng, ví cầu, ví ước, ví sói… Ví  kết bạn là ví giữa nam và nữ, mong được kết bạn cùng nhau; ví đôi ta là ví đôi nam nữ sau khi thỏa thuận hai người cùng vui mừng cùng tạo điều kiện để thành vợ thành chồng; ví nài là ví xin nhau, xin thưa chuyện, nếu không được chấp nhận vẫn cố "nài" bằng được; ví chúc là ví chúc cho vạn vật, con người được tốt đẹp, thành đạt; ví ước là ví khi đôi lứa mới gặp nhau ước cho hai đứa thành bạn, gần gũi, thân yêu nhau… Sự phân loại này chỉ nên được hiểu theo ý nghĩa tương đối. Nhiều khi, nội dung có sự giao thoa giữa các loại.

Hát ví là tiếng nói trái tim của những người lao động, nhất là thế hệ trẻ ở chốn làng quê. Qua đó nói lên tình cảm và ước mơ, mong mỏi cuộc sống được tốt đẹp, thi vị hơn. Mỗi buổi, mỗi cuộc hát ví là mỗi dịp để họ bày tỏ tâm tình, cất lên tiếng hát giao duyên tìm bạn, tìm người yêu, kết nghĩa vợ chồng…

Nội dung ca từ hát ví người Tày Định Hóa rất phong phú, mang nặng chất trữ tình. Đó thường là tiếng nói nối nhịp tình yêu đôi lứa, giãi bày những cảm xúc cá nhân, những suy tư tình cảm sâu thẳm từ trong trái tim tuổi trẻ. Các làn điệu dường như cũng dành riêng cho tuổi nụ, tuổi hoa đi tìm hạnh phúc lứa đôi. Thông qua ca từ và làn điệu ví, trai thanh, gái lịch từ các làng bản thể hiện nỗi lòng của mình với các bạn tình. Vì vậy, tính trữ tình trong hát ví người Tày Định Hóa rất đa dạng và sâu sắc.

Nhiều ca từ mang vẻ đẹp giản dị và thường lấy những hiện tượng tự nhiên hoặc những hình ảnh gắn bó với đời sống lao động để nói thay nỗi lòng của mình:

Lạ lùng anh mới tới đây

Cho anh xin kết một dây tơ hồng

Tơ hồng se bảy se ba

Se vấn se vít thì ta lấy mình

Hoặc chỉ là một thoáng gặp ở chợ phiên, lễ hội mà đã nảy sinh những lời ước hẹn:

Chợ làng một tháng sáu phiên

Hội hè đình đám mơ miền gặp nhau

Trai thanh gái lịch tình sâu

Hẹn nhau sắm sửa gật đầu sang chơi

Sự nhớ thương của đôi lứa yêu đương trong hát ví người Tày Định Hóa thường rất mãnh liệt. Họ không cần ý tứ, che giấu những tình cảm ấy (cho dù hơi sướt mướt):

Đò xuôi chín tháng đò lên

Xin chàng cứ ở chính chuyên chờ đò

Thương chàng đến nỗi khóc thầm

Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa

Hôm qua còn ướt vừa vừa

Hôm nay ướt hết như mưa lọt vào

Tính trữ tình của hát ví người Tày Định Hóa cũng thường được thông qua lối ví von so sánh mà người Tày thường sử dụng để nói lên vẻ đẹp thanh tao và lòng son sắt thủy chung của lứa đôi, chồng vợ:

Đôi ta như cọc cắm ao

Ai rung chẳng chuyển ai đào chẳng vơi

Đò xuôi xuống thác, lên trời

Cắm sào cho chặt chẳng rời được đâu

Cùng với tính trữ tình, hát ví người Tày Định Hóa là loại hình văn nghệ dân gian mang đậm tính nhân văn. Lời ca của hát ví biểu hiện những nét đẹp của tâm hồn con người qua nhiều cung bậc: yêu thương, nhớ nhung, buồn thương ai oán, cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, kính trên nhường dưới… Ca từ hát ví thường rất mộc mạc, thậm chí có phần đơn sơ nhưng bao giờ cũng mang vẻ đẹp con người, một vẻ đẹp bình thường, giản dị:

Cuộc đời em ước thế thôi

Mong đâu quyền quý trạng người thế gian

Vợ chồng sớm tối phòng loan

Trao nhau ân ái đêm tàn mới thôi

Chăm lo cuộc sống bằng người

Nở cành xanh ngọn vẹn mười tháng năm

Những tình cảm lứa đôi nồng nàn, tình cảm vợ chồng thắm thiết, quan tâm lẫn nhau, nhắc nhở nhau không tham lam, phải giữ gìn nhân đức, năng làm điều thiện nhiều khi cũng được gửi vào câu hát ví:

Không tham quyền quý giàu sang

Vợ chồng có tấm lòng vàng thủy chung

Mẹ cha chẳng sống đến cùng

Có mắt mà mở có lòng mà thương

Tránh xa mọi chuyện tai ương

Trăng hoa tơ nguyệt bốn phương chê cười

Tu nhân tích đức làm người

Giữ lòng cho trắng giữ lời cho thơm

Đôi khi là sự nhắc nhở nhau dù cuộc đời dẫu đầy khó khăn trắc trở nhưng nếu có sự yêu thương, gắn kết thì "bể đông tát cạn":

 Sá gì nắng gắt mưa cơn

Thuận chồng thuận vợ là xuân bốn mùa.

Lời ca trong hát ví không chỉ là phương tiện trong những cuộc hát mà nhiều khi nó trở thành nhịp cầu tình cảm để con người gần với con người, yêu thương con người hơn:

Chúc rừng gió thổi lao xao

Đem luồng gió mát ước ao muôn đời

Chúc rừng như một con người  

Có lòng nhân ái muôn người có đôi.

Qua hát ví, nam, nữ vẫn thường nhắc nhở nhau trong cuộc sống cũng như tình yêu, tình vợ chồng phải sao cho trọn vẹn, có trên có dưới, tôn ti trật tự:

Anh thưa chuyện với mẹ cha

Để em được phép đi ra hầu chàng

Kính trên nhường dưới rõ ràng

Tỏ ra lịch sự lòng nàng mới vui

Tính nhân văn của hát ví người Tày Định Hóa còn được thể hiện qua những ước mơ bình dị, được sống trong cảnh bình an, hạnh phúc đơn sơ:

 Nữ: Anh ơi!

Ước gì được ở một nhà

Như chim một tổ như hoa một cành

Nam: Ước gì được ở một nhà

Canh chung một bát cho ta cùng ngồi

Trong cuộc đời, tình yêu không phải lúc nào cũng trọn vẹn, xuôi chèo mát mái. Nhiều đôi lứa, vì những trắc trở mà không đến được với nhau nhưng mãi mãi chẳng quên được nhau, họ muốn bù đắp lại những thiệt thòi cho thế hệ sau. Đó cũng là một nét nhân văn khá đặc sắc trong hát ví của người Tày Định Hóa:

Xa nhau mấy chục năm trời

Bây giờ mỗi đứa mỗi người một nơi

Ngày xưa chẳng lấy được nhau

Bây giờ con gả cho nhau được nhờ

Về địa điểm, thời gian diễn xướng hát ví không cầu kì, không phải dựa vào các lễ hội; không cần sân khấu, âm nhạc; trang phục cũng đơn giản. Về điểm này có khác với nhiều thể loại dân ca khác như hát then cần có đàn tính, hát ả đào cần có đàn đáy, trống chầu, mũ, áo đặc sắc tượng trưng cho nghề nghiệp chứ không thể bất cứ đầu đường hẻm núi nào cũng có thể thực hành như ví.

 

Định Hóa vốn có một không gian rộng mênh mông cùng những rừng cọ đồi chè, đèo cao, suối sâu… chính là những địa điểm thuận tiện và đầy thi vị để các cuộc hát ví được diễn xướng. Những câu hát ví yêu đương, tình tứ nhiều đời nay bay bổng trên những nương chè xanh biếc, trên những đồi cọ xòe ô trong nắng đã mang nhiều hương vị, sắc màu mới. Ví như, một đôi trai gái bất chợt gặp nhau trên một vạt rừng nào đó khi đang lao động:

Tiếng ai chặt củi trên rừng

Để anh chặt với chúng mình là đôi

Hoặc ngẫu hứng một bài ví khi đi qua cánh đồng của bản:

Qua đồng ta chúc cho đồng

Bốn mùa xanh tốt xanh vồng ngô khoai.

Nhiều nhà nghiên cứu cho biết, hát ví người Tày là kết quả của sự giao thoa văn hóa giữa hai miền xuôi, ngược. Từ hát ví của miền xuôi mà biến hóa thành hát ví của người Tày Định Hóa. Khảo sát nguồn dân ca này còn dễ dàng nhận thấy có sự trùng lặp ca từ của hát ví từ nhiều vùng miền khác, nhất là ở các địa bàn gần gũi hoặc tiếp giáp với đất Định Hóa như tỉnh Tuyên Quang, một số vùng Kinh Bắc xưa, nay là Thái Nguyên, Bắc Ninh… là nơi có phong trào hát quan họ và hát ví ở hai bờ sông Cầu.

Ví dụ, ca từ có sự trùng lặp cả của quan họ Bắc Ninh lẫn hát ví bên sông Cầu:

- Thương chàng đến nỗi khóc thầm

Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa

Chàng về em chẳng cho về

Anh nắm vạt áo anh đề câu thơ

- Yêu nhau mấy núi cũng trèo

Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua

Sông dài cá lội biệt tăm

Phải duyên chồng vợ ngàn năm vẫn chờ

Hoặc trong ca từ của hát ví người Tày Định Hóa cũng có sự trùng lặp gần như cả bài so với ca từ hát ví bên sông Cầu của Bắc Giang (Bắc Ninh) và Phổ Yên (Thái Nguyên):

Quả gì bốn múi năm khe?

Quả gì nết nẻ như đe thợ rào?

Quả gì kẻ ước người ao?

Quả gì lấp lánh như sao trên trời?

Quả gì ăn đủ năm mùi?

Quả gì to lớn có người ngồi trong?...

Một điều nữa, có thể do nhận thấy phần nào có sự giống nhau giữa hát ví của người Kinh và lượn của quê hương mình nên các nghệ nhân, ca nương trên đất Định Hóa đã sáng tạo ra thể loại lượn ví để làm giàu thêm cho loại dân ca này. Về ca từ, cả hai loại đều hướng về trữ tình, rất giàu tính nhân văn.

Nội dung ca từ của lượn thường có những lời khuyên, lời chúc, mừng, lời tỏ tình, lời rủ nhau đi vào đường tình, đường nghĩa…  giống như của hát ví. Lượn và ví cũng có những nét khá giống nhau về hình thức diễn xướng là thường hát đôi, hát đối đáp và địa điểm hát, trang phục cũng không cầu kì. Tuy hát lượn cần đàn, sáo nhưng khi đã trở thành lượn ví thì các loại nhạc cụ này cũng được loại bỏ.

Có thể nói đây là một nét độc đáo trong sự giao thoa giữa hai miền văn hóa. Và có lẽ nhờ các lợi thế về sự đồng điệu ấy mà hát ví và lượn ví của người Tày Định Hoá đã song hành đến ngày hôm nay.

  Trong công tác giữ gìn và phát huy văn hóa dân gian, dân tộc thì hát ví người Tày Định Hóa là một sản phẩm văn hóa phi vật thể quý hiếm cần được bảo vệ và phát triển. Hiện nay, nguồn dân ca này đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích di sản quốc gia. Tuy vậy, nhưng nếu không có biện pháp cụ thể và sự quan tâm thường xuyên thì khó có thể giữ được hồn cốt làn điệu dân ca đáng quý này trong tương lai.


Từ khóa:

văn hóa

trữ tình