Phùng Văn Khai và “thơ viết cho mình”: Khi lịch sử đi qua một tâm hồn riêng

Kỳ Hoàng 14:17, 11/06/2026

Sau nhiều năm bền bỉ với dòng tiểu thuyết lịch sử, tác giả Phùng Văn Khai bất ngờ trở lại trong một diện mạo văn chương khác, một thi sĩ đối diện với chính mình. “Thơ viết cho mình” không chỉ là tiếng nói riêng tư của một người cầm bút từng đi qua nhiều miền sử Việt, mà còn là cuộc trở về sâu thẳm với cội nguồn, làng quê, cha mẹ, người vợ, những phận người khuất lấp và những câu hỏi chưa nguôi về lịch sử, nhân sinh.

Một cuộc trở về với lịch sử, cội nguồn và với chính mình

Trong đời sống văn học đương đại, Phùng Văn Khai là một gương mặt khá đặc biệt, một nhà văn quân đội viết sung sức ở nhiều thể loại, nhưng dấu ấn nổi bật nhất của anh lại nằm ở mảng tiểu thuyết lịch sử. Anh hiện là Đại tá, nhà văn, Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Những tác phẩm như “Phùng Vương”, “Ngô Vương”, “Nam Đế Vạn Xuân”, “Triệu Vương phục quốc”, “Lý Đào Lang Vương”, “Lý Phật Tử định quốc”, “Trưng Nữ Vương”… cho thấy một đường văn bền bỉ hướng về lịch sử dân tộc, về những lớp trầm tích văn hóa, quốc thống, cội nguồn.

Bìa cuốn sách "Thơ viết cho mình"

Từ nền tảng ấy, tập thơ “Thơ viết cho mình” có thể xem là một sự tiếp nối, nhưng cũng là một bước ngoặt rẽ trong sáng tạo văn chương của Phùng Văn Khai. Nếu trong tiểu thuyết lịch sử, Phùng Văn Khai thường đi vào đại tự sự dân tộc qua các nhân vật, triều đại, biến cố, sự kiện… thì trong tập thơ này, lịch sử, văn hóa, quê hương và nhân sinh lại được đi qua một con đường gần gũi hơn và cũng cá nhân hơn. Đó là con đường của cái tôi trữ tình. Cái tôi ấy vừa là người điền dã, người đọc sử, người lính, người con, người chồng, người viết văn, người từng va đập với đời sống, vừa là một kẻ tự vấn không ngừng trước những điều còn chưa thể giải quyết xong trong tâm tưởng của mình. Tập thơ do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành vào cuối tháng 4 năm 2026 và khi ra mắt đã gây tiếng vang trong lòng những độc giả yêu văn chương.

Về cấu trúc, tập thơ chia thành hai phần lớn gồm “Thơ từ ký ức” và “Thơ viết cho mình”. Phần thứ nhất là một hành trình qua các địa danh, di tích, danh nhân, không gian văn hóa như Sông Hồng, Cổ Loa, Chùa Cổ Pháp, Văn Miếu, Đường Lâm, Phố Hiến, Phủ Trịnh, Cầu Long Biên, Cột cờ Hà Nội, Chùa Nôm, Chùa Gia Thượng, Đền Đôi Cô, Triều Khúc, đền thờ các danh tướng, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Minh Chuyên, tranh Đông Hồ, hoa đại Nhà số 4 Lý Nam Đế… Phần thứ hai đi sâu hơn vào những đối thoại nội tâm với người cha, với đường làng, với tiếng đàn, với ông hề, với chị đánh giày, với người vợ, với sông Hồng, với Trương Chi, Trọng Thủy, người mẹ đơn thân, người trong song sắt, cánh đồng làng, với hoa đào, lô cốt bên sông, ngã ba sông, Cửa Bắc, với hoa sen…

Từ lịch sử dân tộc đến thân phận cá nhân

Đặc điểm nổi bật trước tiên của “Thơ viết cho mình” là cảm thức lịch sử. Nhưng lịch sử trong thơ Phùng Văn Khai không phải thứ lịch sử khô cứng trong niên biểu hay sách giáo khoa. Nó là lịch sử đã thấm vào đất, vào nước, vào cây, vào đình, đền, chùa, miếu, vào tiếng chuông và khói hương trầm.

Ở bài thơ“Sông Hồng”, dòng sông vừa là địa lý, vừa là quốc thổ, vừa là người mẹ, vừa là chứng nhân của dân tộc.

“Lặng thầm đã mấy nghìn năm

Mà sông vẫn trẻ như trăng lạ kỳ

Như người, sông mải thiên di

Mà thành quốc thổ xanh rì nghìn năm.”

Cách gọi sông như “người” cho thấy Phùng Văn Khai không nhìn thiên nhiên như cảnh vật bên ngoài, mà như một sinh thể văn hóa sống động. Sông Hồng đi qua thơ anh không chỉ bằng màu nước nặng phù sa, mà bằng ký ức nghìn năm của quốc gia. Đến khổ thơ sau, dòng sông lại hóa thành bóng người mẹ:

“Mẹ ta - một loài chim trên sóng

Bão gió triền miên suốt phận người

Mẹ cũng như sông về vô tận

Để con nguyên vẹn những ban mai.”

Hình ảnh người mẹ và dòng sông nhập vào, hòa quyện làm một, tạo nên một trục biểu tượng rất quan trọng trong tập thơ, đó là trục cội nguồn. Với Phùng Văn Khai, cội nguồn không phải một khái niệm trừu tượng, mà trái lại rất thân quen. Nó có dáng mẹ, có bãi bờ, có hương bưởi, có sân đình, có vệt bùn trên chân người nông dân.

Khi viết về Cổ Loa, nhà thơ không chỉ nhắc đến một kinh đô cổ mà còn chạm vào bi kịch lịch sử của tình yêu, quyền lực, mất nước và nỗi oan khiên.

“Lẫy nỏ oan khiên phận thiếp - chàng

Ngai vàng gãy đổ nước tan hoang

Gươm báu đứt lìa tình phụ tử

Thân trai ngậm ngọc lệ đôi hàng.”

Tập thơ có nhiều bài viết về các di tích lịch sử, song có lẽ điều khiến cho người đọc nhớ nhất không chỉ là di tích, mà còn là dáng đứng của cái tôi trữ tình trước di tích. Một cái tôi trữ tình kính cẩn, day dứt, đôi khi nghi ngờ, đôi khi đau đớn, đôi khi muốn xới lại một lớp đất cũ để tìm trong đó một mạch nước nhân tình thế thái.

Nếu phần “Thơ từ ký ức” nghiêng về địa danh, di tích, danh nhân, lịch sử thì phần “Thơ viết cho mình” đưa người đọc vào vùng sâu hơn, riêng tư hơn của cái tôi cá nhân. Bài thơ trùng tên tập thơ, “Thơ viết cho mình”, viết về người cha đã mất. Cái chết của người cha trong đêm Noel rét buốt đã khiến tác giả có những chấn động và suy tưởng nội tâm. Người cha không nói, chỉ lặng im và chính sự lặng im ấy lại trở thành bài học lớn nhất cho người con. Từ sự ra đi của người cha, cái tôi trữ tình nhìn lại chính mình với những lúc hung hăng, to tiếng, mải mê công danh, những lần phát biểu, tranh khôn, “tiền hô hậu ủng. Người viết không tự dựng cho mình một chân dung đẹp đẽ, mà chấp nhận soi vào phần vụng dại, phần kiêu căng, phần đã từng xa cách với chính gốc rễ máu thịt của mình.

“Ta sao có lúc hung hăng quá

Vung tay, to tiếng những tượng đài

Tranh khôn với khắp người thiên hạ

Nào biết kiêng dè với một ai”.

Mạch thơ về gia đình còn có những bài như “Thơ về người vợ”, “Thư về em”, “Nói với đường làng”... Trong “Thơ về người vợ”, Phùng Văn Khai viết về người phụ nữ âm thầm đi bên cạnh một người chồng văn chương, bia rượu, công danh, thói tật. Điều đáng quý là bài thơ không làm đẹp hóa cho người chồng, cũng không biến người vợ thành một biểu tượng trừu tượng. Người vợ hiện lên gần gũi, thân quen như bếp lửa, như nước giếng, như người giữ lại trật tự đời sống, như người đã đi qua bao lam làm, chịu đựng, bao dung, giữ ấm căn nhà trong khi người chồng mải mê nơi chân trời với văn chương, bia rượu, công danh. Câu thơ “Ta có vợ ta, điều rất thật” nghe giản dị nhưng đằng sau đó là cả một sự tự nhận thức muộn màng. Nó là khoảnh khắc người đàn ông từng đi xa bỗng nhận ra người gần mình nhất.

“Tài hoa dâng hết cho thiên hạ

Tàn canh sực nhớ đến niêu nồi.”

Đó là một câu thơ vừa tự trào, vừa chua chát. Nó nói đúng một thói tật của nhiều người đàn ông văn chương, có thể hào phóng, tài hoa với thiên hạ, nhưng lại vụng về, dại dột với người gần gũi nhất.

Một trong những điều làm cho “Thơ viết cho mình” vượt ra khỏi phạm vi tự sự cá nhân là sự hiện diện của những thân phận nhỏ bé, khuất lấp. Bài thơ“Nói với chị đánh giày” viết về một người phụ nữ đánh giày ở cửa Ô Quan Chưởng, nuôi con bệnh, bản thân mang trọng bệnh, rồi bỗng vắng bóng. “Trước chợ đêm Long Biên” viết về những người lao động kéo xe, bốc hàng, kiếm từng miếng ăn trong đêm lạnh. Những bài thơ như “Lời người mẹ đơn thân”, “Lời người trong song sắt”, “Em bé da đen” đều hướng về các thân phận dễ bị định kiến, bỏ rơi, bị nhìn thiên lệch. Ở đây, thơ Phùng Văn Khai có một ý thức nhân văn rõ rệt khi không nhìn con người bằng những nhãn dán đạo đức đơn giản, mà cố gắng đi vào những nỗi đau, hoàn cảnh, sự cô độc, những vết thương không dễ gọi tên.

Cội nguồn làng quê và nỗi đau mất dấu

Một mạch thơ quan trọng khác của “Thơ viết cho mình” là cảm thức về nguồn cội quê hương. Nhưng quê hương trong “Thơ viết cho mình” không chỉ là miền hoài niệm êm đềm. Nó còn là một vùng đau im lặng, bởi nhiều thứ đã và đang mất đi.

Bài thơ“Chợ Ghênh” là một hồi ức xúc động về tuổi thơ:

Ngày con năm tuổi mong bà

Chợ Ghênh về sớm chia quà giữa sân

Bỏng ngô, kẹo lạc, kẹo vừng

Nậm rượu quê để phần ông khề khà”.

Nhưng hồi ức ấy lại nhanh chóng va đập vào hiện tại:

“Năm mươi ba tuổi khóc cười

Chợ Ghênh thăm lại... đâu rồi chợ xưa”.

Sự thay đổi của chợ quê không được nhìn bằng thái độ cực đoan chống lại hiện tại, mà bằng một nỗi buồn của người nhận ra ký ức đã bị di dời đi. Chợ vẫn còn đó, nhưng “chợ xưa” thì đã biến mất. Không gian vật chất thay đổi kéo theo sự biến đổi của tâm thức, sự xót xa của tâm cảm.

Ở bài thơ“Từ cánh đồng làng”, nỗi mất mát ấy như sâu sắc hơn, trĩu nặng tâm tư hơn. Cánh đồng tuổi thơ, nơi có lưng trâu, hạt gạo, củ khoai, cơm cúng bà của người cha, thì nay bị thay bằng nhà máy, bê tông, ô tô, ống khói. Câu hỏi ở cuối bài không chỉ là tiếng thở dài buốt lòng của cá nhân mà còn khiến người đọc phải suy ngẫm.

“Cánh đồng làng xưa không còn nữa

Tuổi thơ lấm láp có còn không

Ngẩng hỏi trời chỉ mây bay trắng

Đất dưới chân gió thổi rát lòng...”

Phùng Văn Khai không biến quê hương thành một hoài niệm bất biến để đóng khung thờ phụng. Anh biết đời sống phải chuyển động và chấp nhận sự thay đổi như một lẽ thường hằng. Nhưng tâm tư anh đau xót vì con người có thể đi quá nhanh, quá xa và vội vàng đến mức đánh mất cội rễ. Tập thơ vì thế không chỉ có hoài niệm, mà còn gợi ra một ý thức văn hóa, một chất vấn nguồn cội rằng khi làng quê mất dấu, con người sẽ đứng ở đâu trong bản sắc, định vị cá nhân của bản thân mình?

Những nỗi niềm cá nhân và sự tự vấn với văn chương

Một mạch thơ đáng chú ý khác trong “Thơ viết cho mình” là những bài viết về tạp chí Văn nghệ Quân đội hay không gian Nhà số 4 Lý Nam Đế, địa chỉ quen thuộc của nhiều thế hệ nhà văn quân đội và người yêu văn chương qua các năm tháng. Với Phùng Văn Khai, Nhà số 4 không chỉ là đơn vị công tác, mà còn là một “cõi văn chương” đặc biệt, nơi ký ức đồng đội, ký ức nghề nghiệp và ý thức về sự tiếp nối văn mạch truyền thống cùng nhau hiện diện. Trong bài thơ “Hoa đại Nhà số 4”, hai cây đại nơi cổng cơ quan trở thành chứng nhân lặng lẽ của bao thế hệ văn nghệ sĩ.

“Người đã đi rồi, cây vẫn đó

Bốn mùa hoa rụng trắng thềm sân”.

Hoa đại không chỉ là hình ảnh của thiên nhiên, mà còn là biểu tượng của sự khiêm nhường, bền bỉ, trong sạch giữa “trường văn, trận bút”.

Từ Nhà số 4 Lý Nam Đế, Phùng Văn Khai mở rộng suy tư về văn chương và thân phận người cầm bút. Trong nhiều bài thơ, anh nhìn văn chương không phải như một thú chơi tao nhã, mà như một nghiệp bút nặng nề, một cuộc dấn thân nhiều thương tích. Bài thơ“Thư gửi Hoàng Liên Sơn” có những câu rất tiêu biểu về “nghiệp văn chương”.

“Đã trót đem thân vào bút mực

Là mang vào muôn vết thương sâu

Văn chương nào khác gì kiếm khách

Chữ nghĩa thành không buổi mất đầu”.

Điều đáng quý là Phùng Văn Khai không thiêng liêng hóa người viết. Anh tự giễu mình, tự nhận những lúc “hung hăng, khinh suất”, “duy mình nhất”, tự đối diện với tham vọng công danh và cả những thói tật của giới văn chương. Chính sự thành thật đáng quý, sự ngạo nghễ và chua chát ấy khiến cho các bài thơ về văn chương trong tập“Thơ viết cho mình” không rơi vào ngợi ca nghề nghiệp một chiều, mà trở thành những cuộc tự vấn về đạo đức sáng tạo, trách nhiệm chữ nghĩa và cái sự trả giá tinh thần của những người đã chọn “phơi mình trên mặt giấy”.

Nghệ thuật thơ giàu tính tự sự, tính đối thoại và chất dân gian Bắc Bộ

Về khuynh hướng nghệ thuật, dễ thấy Phùng Văn Khai có xu hướng kể chuyện trong thơ. Phùng Văn Khai vốn là nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử, nên khi bước vào thơ, anh vẫn mang theo thói quen kể chuyện. Nhiều bài thơ có lời dẫn khá dài, giới thiệu hoàn cảnh, địa danh, nhân vật, ký ức. Điều này làm cho thơ anh không phải loại thơ cô đặc đến tối giản, mà là thơ của câu chuyện, của dòng chảy. Có bài giống một truyện ngắn bằng thơ, có bài giống một đoạn độc thoại dài trên sân khấu, có bài giống một bài văn tế hiện đại. Đây vừa là ưu điểm, vừa là dấu hiệu riêng trong phong cách. Ưu điểm là thơ của Phùng Văn Khai có dung lượng đời sống lớn, nhiều nhân vật, nhiều tình huống, nhiều tầng suy tưởng. Nhưng đôi khi, chính vì ham kể, ham nói, ham chất chứa, một số bài có thể tạo cảm giác dàn trải. Tuy nhiên, sự dàn trải ấy cũng là một phần của cá tính Phùng Văn Khai, một cây bút không thích thì thầm ít lời, mà thường muốn bung hết nội lực, như người gõ trống vang dội trước sân đình cho mọi nỗi niềm cùng thức dậy và cộng hưởng.

Ngôn ngữ thơ Phùng Văn Khai mang đậm sắc thái dân gian và văn hóa Bắc Bộ. Các hình ảnh như đình, đền, chùa, miếu, sân đình, cây đa, bến sông, hoa gạo, hương bưởi, trầu cau, chó đá, rùa đá, hạc gỗ, chuông chùa… xuất hiện dày đặc. Đó không chỉ là chất liệu của thơ mà trở thành một hệ thống những biểu tượng. Chúng tạo nên một tầng thẩm mỹ riêng, nơi lịch sử, làng quê, tự tình cá nhân hòa quyện vào nhau. Nhiều câu thơ có âm hưởng ca dao, tục ngữ, lời văn tế, lời khấn, lời kể dân gian.

Một thủ pháp nổi bật trong tập “Thơ viết cho mình” là tính đối thoại. Rất nhiều bài thơ có nhan đề bắt đầu bằng “Nói với”, “Trước”, “Đối thoại”, “Trò chuyện” như “Nói với đường làng”, “Nói với tiếng đàn”, “Nói với ông hề”, “Nói với chị đánh giày”, “Trước hai ông tượng”, “Trước chợ đêm Long Biên”, “Đối thoại cùng lô cốt bên sông”, “Trò chuyện với sen”… Kiểu nhan đề ấy cho thấy thơ Phùng Văn Khai là thơ của những cuộc gặp gỡ. Anh đi gặp sông, gặp cây, gặp tượng, gặp người chết, gặp người sống, gặp nhân vật cổ tích, gặp di tích, gặp cả chính mình.

Giọng điệu của tập thơ khá đa thanh. Có giọng trang nghiêm khi viết về lịch sử, tiền nhân, danh tướng. Có giọng xót xa khi viết về cha, về quê hương, về những người lao động. Có giọng tự trào, ngang tàng, thậm chí bỗ bã trong “Thư gửi Hoàng Liên Sơn” hay “Ta từ phía trước”. Có giọng triết lý trong những bài viết về hoa sen, hoa đào, hai ông tượng thiện ác. Sự pha trộn này làm cho tập thơ không đơn điệu. Nó cho thấy Phùng Văn Khai không muốn chỉ làm một “thi sĩ của đền đài”, mà còn muốn kéo thơ xuống chợ, xuống bến sông, xuống quán phở đầu ô, vào phòng họp Nhà số 4, vào song sắt, vào đêm chợ Long Biên.

“Thơ viết cho mình” không phải tập thơ của sự trau chuốt ngôn từ, cũng không phải tập thơ chỉ để ngắm những hình ảnh đẹp. Nó giống một cuốn sổ tay tâm hồn được viết vội trong những buổi chiều thăm viếng chùa chiền, những chuyến điền dã, những đêm nhớ cha, những giây phút đứng trước dòng sông, trước cổng thành, trước cây, hoa, trước chợ đêm. Có khi câu chữ còn xô lệch, thô tháp, có khi cảm xúc tràn bờ tưởng chừng không kìm hãm nổi, nhưng chính cái tràn bờ ấy lại cho thấy một người viết đang sống hết mình với trang giấy.

Và có lẽ khi Phùng Văn Khai viết:

“Thơ viết mỗi dòng như máu ứa

Nào biết gì đâu đến chữ nhàn”

Anh đã gợi đúng tinh thần của cả tập thơ. Chính vì thế, “Thơ viết cho mình” là một tập thơ đáng đọc không chỉ để hiểu thêm về cá tính văn chương Phùng Văn Khai, mà còn để nhận ra một kiểu tâm thế sáng tạo. Đó là càng đi xa vào dân tộc, càng phải đi sâu vào con người, càng viết cho mình, càng phải mở lòng ra với nhân gian muôn nẻo.

Nhà văn Phùng Văn Khai tại buổi ra mắt cuốn sách Thơ viết cho mình
Nhà văn Phùng Văn Khai tại buổi ra mắt cuốn sách "Thơ viết cho mình"

NHÀ VĂN PHÙNG VĂN KHAI

Bút danh khác: Phong Vân, Phong Sương

Quá trình công tác hơn 32 năm đã trưởng thành từ Chiến sĩ nghĩa vụ đến Phóng viên, Biên tập viên, Trưởng ban Thơ, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội (từ 2016 đến nay); nhà văn đã nhận nhiều hình thức khen thưởng của Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng cục Chính trị, Hội Nhà văn Việt Nam…

Nhà văn Phùng Văn Khai đã xuất bản 25 đầu sách gồm thơ, truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết, tiểu luận, nghiên cứu phê bình, chân dung văn học...

Được nhận nhiều giải thưởng văn học

- 05 lần đạt Giải thưởng Văn học 5 năm Bộ Quốc phòng (1999-2004; 2005-2009; 2009-2014; 2014-2019; 2019-2024).

- Giải thưởng Ban tuyên giáo Trung ương (2009) với tác phẩm Nơi ước mơ hẹn gặp.

- Giải thưởng Bộ Quốc phòng (2012) với tác phẩm Người cận vệ của Bác Hồ.

- Giải Cây bút vàng Bộ công an (2018) với tác phẩm Tấm thẻ.

- Giải thưởng cuộc thi Tiểu thuyết Hội nhà văn Việt Nam (2016-2019) với tác phẩm Ngô Vương.

- Giải thưởng Tổng cục Chính trị (2020) với tác phẩm Những liệt sĩ thời bình.

- Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội (2024) với tác phẩm Văn học Việt Nam từ dấu mốc Đổi mới 1986 - chuyển động, thành tựu và bản sắc.

- Giải thưởng Hội đồng lý luận Trung ương với tác phẩm 80 chân dung Văn nghệ sĩ quân đội (năm 2025).

- Giải thường cuộc thi thơ Xuân mới của Chi hội Nhà văn Công an năm 2026.