Chiếc bánh bé xíu

Minh Hà 15:54, 03/03/2026

Vừa gói xong hơn chục cái bánh chưng, tôi lấy lạt buộc lại từng cặp với nhau để tí nữa xếp vào nồi luộc, rồi quay lại thúng, ước chừng còn khoảng lưng bát gạo và đỗ, đang định bụng gói chiếc bánh nhỏ thì thằng cháu mải nghịch những cuống lá dong từ nãy giờ, nghe thấy bà vỗ thúng gạo bồm bộp, nó vội chạy tới phụng phịu: “Bà không gói bánh bé cho con à”? Tôi vội trả lời: “có chứ, bà vẫn phần một bát gạo, vừa đủ gói cho con một chiếc đây”.

Nhặt tàu lá dong, cắt tỉa cho gọn lại, vét nốt chỗ gạo đỗ, tôi cẩn thận gói mà như đang lật giở từng kỷ niệm. Khi chiếc lạt buộc vừa đủ chặt, tôi đưa cho cháu, thằng bé cầm bánh trên tay, nhảy cẫng lên sung sướng, làm tôi bỗng nhớ về Tết xưa…

Minh họa: Trần Ngọc Kiên
Minh họa: Trần Ngọc Kiên

Ngày đó, tôi chỉ là một cô bé lên 7- 8 tuổi, cũng cỡ như cháu tôi đây. Mẹ tôi là công nhân của nhà máy, sống dưới thời bao cấp, quanh năm ăn độn. Tuy nhà chỉ có hai mẹ con nhưng tôi thường phải ăn khoai, ăn sắn trộn lẫn hạt bo bo. Cả năm mẹ tôi đi sớm về khuya, chiếc áo công nhân phai màu theo khói bụi, giọt mồ hôi muối vẽ những đường cong queo trắng xóa trên lưng. Đồng lương ít ỏi, những tờ tem phiếu mỏng manh nhiều khi không đậu lâu trong chiếc túi đã bị sứt chỉ, trông giống như miệng con cá đang ngoác ra vì đói.

Cuối năm, mẹ đã phải bán bớt đi để lấy tiền đong vài đấu gạo nếp. Vậy mà nói đến Tết, cả hai mẹ con đều rộn ràng và háo hức chờ đợi. Và Tết nào mẹ tôi cũng xoay đủ thịt, gạo để gói bánh. Còn tôi có thêm một chiếc áo mới bằng vải pôpơlin in hoa sặc sỡ. Mẹ thường nói: “đói quanh năm, no ba ngày Tết”, hay “làm cả năm để lo ba ngày Tết”…

 Ở trong xóm sơ tán thời bấy giờ, Tết đến chậm và lặng lẽ như một người khách nghèo nhưng vui và ấm áp làm sao. Mẹ cùng mấy cô nhà sát vách bắt đầu tính toán từng lạng thịt, từng bát gạo nếp, đếm từng tàu lá dong, rồi phân công nhau, cô này vo gạo, chị kia rửa lá, chẻ lạt và nhắc nhau khi ướp thịt làm nhân nhớ phải ướp bằng nước mắm hạt tiêu thì bánh chưng mới dậy mùi.

Và năm nào, mẹ tôi cũng đón Tết nghèo bằng những câu thơ, nghe nhiều đến nỗi tôi cũng thuộc làu: “Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo/ Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu/ Rượu cúc nhắn đem hàng biếng quẩy/ Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu/ Bánh đường sắp gói e nồm chảy/ Giò lụa toan làm sợ nắng thiu…”. Những lúc như thế, môi mẹ khẽ nở nụ cười như hài lòng với cuộc sống khốn khó thời bấy giờ...

Mỗi lần mẹ gói bánh, là tôi lại ngồi chồm hổm bên cạnh, giúp mẹ lau từng tàu lá dong. Mẹ cẩn thận đong từng bát gạo đổ lên những chiếc lá dong đặt sẵn trên mâm, san gạo cho đều rồi mẹ mới cho chén đỗ, xếp miếng thịt được cắt vừa tay, không dày không mỏng vào giữa rồi lại đổ tiếp chén đỗ, bát gạo lên trên… cũng giống những lần trước, mẹ phải gói đến chiếc thứ hai, thứ ba trở đi bánh mới vuông vắn, đẹp đẽ. Tôi ngồi bên, thi thoảng lại nghiêng người nhìn vào thúng gạo và nhắc mẹ nhớ gói cho mình một chiếc bánh be bé.

Lần nào mẹ cũng giảng giải: “mẹ sẽ gói một chiếc bánh nhỏ cuối cùng, trước hết là một tập quán dân gian, mang nhiều ý nghĩa. Nó được coi là bánh lộc, giữ lại phần may mắn vì theo như lời người xưa, việc gói bánh ngày Tết là một việc làm kết tinh phúc đức của cả một năm nên nhà nào cũng phải dôi dư ra một cái bánh nhỏ, vì những chiếc bánh to là những cái được bày lên ban thờ tổ tiên hoặc đem đi biếu, còn chiếc bánh nhỏ thường cho con cháu, hoặc ăn trước để lấy lộc đầu năm. Thế nên nhà nào cũng phải có một chiếc bánh nhỏ mới yên tâm, rằng năm mới sẽ đắc tài sai lộc…”. Tôi nghe mà chả hiểu gì nhưng cũng cố hỏi vặn mẹ một câu: “thế nhỡ cái cuối cùng nó cũng to như những cái kia thì làm gì có chiếc bánh bé hả mẹ?”. Mẹ cốc yêu lên đầu tôi và nói: “thế con đã quên Tết năm ngoái, con có tới hai chiếc bánh bé rồi à”…

Bánh đã gói xong, mấy nhà chúng tôi cùng xếp bánh vào thùng phi luộc chung. Của nhà ai, nhà nấy đánh dấu. Tôi và anh em thằng Ngọc cùng nhau tự đánh dấu những chiếc bánh nhỏ xíu của mình. Tiếp theo là đến màn đếm bánh, tôi đếm đi đếm lại cũng chỉ được có mười ba cái, ấm ức vì năm nào cũng ít hơn nhà thằng Ngọc tới chục cái bánh, chẳng làm gì được, bụng bảo dạ sẽ phục thù, đợi ra Tết, khi nhà nó hết bánh, lúc bấy giờ tôi mới bê bát bánh chưng ra sân: “nhem nhem có đứa chết thèm tao cho một miếng cõng em mày về…” (Hồi ấy tôi đâu biết tính bình quân, nhà nó có 5 người nên ăn nhiều hơn, còn nhà tôi chỉ có hai mẹ con). Hình dung ra vẻ mặt thèm thuồng của nó, là tôi thấy hả hê trong lòng.

Chiếc bếp được kê cao vững chãi, chẳng mấy chốc lửa đã bốc cao. Trẻ con háo hức thức khuya, chỉ để được nghe tiếng củi nổ lách tách, được chờ khoảnh khắc mẹ mở nắp nồi, lật trở bánh, nghiêng tai nghe tiếng nước sôi ùng ục. Có đứa ngủ gật, đầu gục vào lòng mẹ, hơi ấm lan ra từ bếp và từ hai bàn tay chai sạn của mẹ.

Bánh chưng được vớt ra, xếp ngay ngắn trên mâm. Mấy đứa trẻ chúng tôi nhảy cẫng lên vì đứa nào cũng có những chiếc bánh nhỏ xíu. Mẹ bóc rồi cắt bánh, tôi đưa ánh mắt thèm thuồng nhìn miếng thịt trong ruột bánh đang đung đưa theo sợi lạt, tôi vội vàng nhón lấy, cho luôn vào miệng. Ôi! Nó mới ngon làm sao…

Thời gian đã đưa Tết đi rất xa khỏi cái nghèo, nhưng lại kéo ký ức về rất gần. Nồi bánh chưng hôm nay vẫn đỏ lửa, nhưng trong làn khói mỏng ấy, tôi thấy thấp thoáng bóng mẹ năm nào. Thấy những cái Tết thiếu thốn mà ấm áp, thấy tuổi thơ ngồi bên bếp lửa chờ bánh chín.

Tôi xếp bánh vào nồi, chiếc bánh nhỏ ấy được đặt lên trên cùng nồi bánh, để khi chín thì dễ lấy nhất, cũng là chiếc bánh sẽ được ăn trước tiên để lấy lộc đầu xuân năm mới. Quay sang thằng cháu đứng cạnh, tôi bảo: “Bánh này bà làm cho con, đợi bánh chín, bà sẽ lấy cho con ăn, để năm mới con được nhiều điểm mười nhé”. Thằng bé nhanh mồm: “Và Tết này con lại được nhiều tiền mừng tuổi nữa bà nhỉ”. Tôi cười mà mắt thấy cay cay.

So với bây giờ, mọi thứ đã đổi thay quá nhiều. Tết đến nhanh và đi cũng rất nhanh. Người ta mua bánh chưng sẵn, chỉ cần đặt hàng là có. Không còn cảnh thức đêm canh bánh, không còn được quây quần bên bếp lửa để nghe tiếng củi nổ lách tách giữa đêm đông và những chiếc bánh nhỏ cũng không còn là sự mong đợi, là niềm vui của những đứa trẻ.

Tôi bỗng chạnh lòng thương cho những đứa trẻ thời nay chưa một lần vui sướng chỉ vì được một miếng bánh chưng nhỏ hơn phần người khác. Và cũng không biết, sau này khi lớn lên, ký ức Tết của chúng sẽ neo vào đâu…

Tôi đặt chiếc bánh nhỏ vào nồi, cạnh những chiếc bánh lớn đã gói xong. Trong làn hơi nước bốc lên, tôi lại thấy bóng mẹ. Vẫn dáng người gầy, vẫn đôi tay thoăn thoắt. Và bên tai tôi lại văng vẳng câu thơ mẹ thường đọc năm nào: “Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo/ Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu/ Rượu cúc nhắn hàng đem biếng quẩy/ Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu…”.