Trà hoa đào quán

Võ Thị Thu Hương 17:46, 04/03/2026

Nắng chiều dát một đường thẳng màu sáp ong qua hàng dâm bụt. Hai bên cổng, chỗ khoảng đất rộng là vườn đào mênh mông vào mùa trút lá.

Minh họa: Trần Ngọc Kiên
Minh họa: Trần Ngọc Kiên

Hân lững thững kéo va li bước lên lối mòn quen thuộc, nơi lưu giữ biết bao kỷ niệm ấu thơ của chị em cô.

Ông Hoạch đang lúi húi vun gốc cho đào. Bên kia hàng rào, bác Vận hàng xóm hỏi vóng sang:

- Cái Hân lâu lắm rồi không thấy về bác Hoạch nhỉ?

 Được thể, ông Hoạch thở dài đánh thượt, nói giọng ậm ờ nhưng đủ chứa sự than vãn trách móc:

- Vầng! Đúng là mẹ nào con nấy... Nói đi xin việc mà đi luôn, có đến gần năm trời rồi…

Nghe giọng cha, lòng Hân chùng xuống. Cô khựng lại. Một chiếc lá khô rơi xuống  chạm vào chân cô, phát ra tiếng động khẽ như tiếng gió.

 ***

 Mùa Thu của mấy chục năm về trước, ông Hoạch từ miền xuôi theo cha mẹ lên miền núi để làm kinh tế mới. Họ dừng chân tại một vùng đất nguyên sơ ngủ vùi trong làn sương dày đặc. Đó là một xóm nhỏ lác đác dăm  ngôi nhà ẩn dưới dãy lèn cao chập chùng, những đồi sim, đồi mua nối lưng nhau chạy mãi vào thung xanh.

Cụ Hãn, thân sinh ông Hoạch chọn một quả đồi thoai thoải để khai hoang. Suốt mấy tháng trời ròng rã hai cha con ăn cơm nắm, ngủ lều tranh để phát quang bờ bụi. Cho đến một ngày phát hiện một vạt đào rừng thân cành lên rêu mốc thếch, sần sùi. Những cây đào hoang dã phong sương đứng chen chân trong lớp lớp cây dại rậm rì và những loài cây tầm gửi khác. Cây mác trong tay cụ Hãn nhuộm ánh mặt trời rung rung phát sáng. Mắt cụ hấp háy, miệng nở nụ cười phớ lớ:

- Lộc rừng đây rồi!

Lúc đó chàng trai Hoạch nhìn cha với đôi mắt nửa tin nửa ngờ. Không hiểu cha sẽ làm gì với những cây đào già cỗi mọc lên giữa khu đồi hoang. Cụ Hãn bảo:

- Chỗ này ta làm thành khu vườn. Còn ở kia- cụ chỉ tay vào khoảng đất bằng phẳng cách mấy bụi đào vài chục hét-ta sẽ dựng nhà.

Suốt những ngày sau đó hai cha con tiếp tục phát cây dại, san đất. Khoảng hai tháng sau một khoảng đất rộng rãi phẳng phiu được hình thành. Những cây đào rừng đã yên vị trong mảnh vườn màu mỡ. Chỗ đất đẹp nhất có hướng Tây Nam, nhìn ra vườn đào được dựng lên một ngôi nhà gỗ, ba bề bốn bên đón gió đại ngàn.

Hằng năm, cứ vào mùa thu cụ Hãn chọn những nhành đào mập mạp, khỏe mạnh khoanh vỏ, bó bầu đất bằng bẹ chuối. Đến khi thấy những chùm rễ màu trắng ngà bật ra tua tủa thì giâm cành xuống đất. Từ mấy bụi đào rừng, cụ Hãn đã chiết, đã giâm nó ra thành hàng chục, hàng trăm gốc đào nhà.

Một vùng đất rừng, đất đồi hoang vu lạnh lẽo ngoảnh đi ngoảnh lại đã thành ngôi làng nhỏ, ngày đêm rộn rã tiếng cười nói của người dân góp khắp nơi đổ về. Nhưng có điều lạ, vùng đất này cây gì cũng hợp cũng xanh tốt quanh năm, vậy mà  cây đào chỉ nhà cụ Hãn may mắn mới có.

Từ ngày cụ Hãn phát hiện ra mấy gốc đào rừng rồi biến nó thành đào nhà, không ai còn thấy bóng dáng cây đào nào trong rừng nữa. Sau mỗi lần chiết cành, cụ cũng đem sang nhà hàng xóm bảo giâm ra để nhân giống nhưng không hiểu sao, được một thời gian, đào sang vườn nhà khác lại khô queo rồi chết dần.

Cụ Hãn hãnh diện về vườn đào lắm lắm. Vẻ đẹp riêng biệt lạ lẫm của những bông hoa cánh dày, hồng phớt như đôi môi thiếu nữ. Cái màu hồng không nhạt quá, cũng không đượm quá mà lại lâu tàn, mới chạm ánh nhìn  đã xiêu lòng mê hoặc. Cụ Hãn yêu quý vườn đào hơn bất cứ thứ gì trên đời, cụ luôn nói với ông Hoạch vườn đào là lộc rừng trời ban cho gia đình ta, sau này cha chết đi thì con phải chăm sóc, giữ gìn vườn đào như cha đã từng làm.

Một ngày Đông, gió hun hút  như muốn xé toạc vạt rừng, ngả nghiêng những nhành đào căng nẩy đọt búp. Cụ Hãn lúi húi trong vườn. Nhìn những giọt sương trong veo màu thủy tinh dệt thành những tấm mành trong suốt trên phiến lá.

Cụ nghĩ đến những ngày cận Tết, cả vườn đào sẽ rạng ngời giây phút khai hoa tỏa sắc. Khu rừng cũng rợp bóng đào, trải dài trong nắng xuân chạng vạng ấm áp. Hai bên triền núi hiện ra một dải thảm hồng mềm mịn như sắc mây trời buông xuống những mái nhà thôn dã…

 Tận xế ngọ, đã đến giờ ăn trưa mà vẫn chưa thấy cha vào nhà, ông Hoạch nghe trong ruột nóng ran như có hàng ngàn con kiến đang bu vào xâu xé. Ông chạy ra vườn đào thì sửng sốt khi thấy cụ Hãn ngồi tựa lưng vào một cây đào xù xì gân guốc như thế con rồng chuẩn bị thoát xác. Đầu cụ nghiêng về một bên, đôi mắt với những vết chân chim sâu hoắm, những sợi mi màu khói khép hờ như  đang dồn hết hồn vía vào một giấc mơ phiêu bồng vô tận giữa hương đất rừng ngai ngái, hương lá đào cay dịu… Nhìn cụ bình thản, nhẹ nhõm như thể mệt quá mà ngồi nghỉ chứ không phải đã chết.

         ***

Vài năm sau ngày cụ Hãn qua đời, ông Hoạch lấy vợ. Bà Lan lần lượt sinh bốn cô con gái. Mong mãi mà chả có đứa con trai nên ông đâm ra hư tính trái nết, khùng điên, lập dị chẳng giống ai.

Khi nhắc đến chuyện con trai con gái. Ông Hoạch sẵng giọng, nhiếc móc dai dẳng, bóng gió, than vãn một điều kỳ quặc, sau này ông già yếu rồi chết không có người thay ông chăm sóc giữ gìn vườn đào. Càng ngày ông càng xa lạ, càng khó sẻ chia gần gũi. Ngoài những lúc lụi hụi ngoài vườn đào thì uống rượu. Uống hết, cầm chai ném vào góc tường vỡ toang.

Bao năm tháng vùi sâu vào những lời chì chiết của chồng, bà Lan sống lặng lẽ như cái bóng trong ngôi nhà nhỏ. Nỗi nhẫn nhục chịu đựng in hằn trên làn da  khô sạm, chất đầy trong đôi mắt  uất ức lãnh đạm. Cái bóng gầy gò, cam chịu của bà cứ chạy vòng quanh trong thế giới nhỏ hẹp, u buồn. Trong căn bếp sặc mùi men rượu, mùi hèm, mùi cám lợn…Trong đồi sắn trút lá vào những ngày cuối đông, trong vườn đào cây tươi cây héo.

Căn nhà nhỏ loảng xoảng tiếng bát đĩa, chai lọ vỡ. Mùi nước mắt quẩn trong mùi khói.

Bà Lan bỏ nhà ra đi vào một đêm mưa dầm dề khi có vài tiếng kêu “théc… théc” như tiếng cú mèo ăn đêm từ ngoài ngõ.

Sáng bảnh mắt, không thấy vợ đâu, ông Hoạch hộc lên mấy tiếng như con bò bị gã đồ tể kề dao vào cổ. Từ đó, ông trút nỗi hận vợ lên đầu bốn cô con gái còn tuổi ăn tuổi lớn. Mỗi lần ông say rồi mở đầu bằng câu nói khê nồng mùi rượu: “Cái đồ… Mẹ nào con nấy” là chị em Hân dắt díu trốn ra vườn chuối. Bốn đứa trẻ ôm chặt lấy nhau, nhắm nghiền mắt, lặng im nghe tiếng tắc kè chậm rãi thả từng tiếng từ trong hốc đất. Những lúc đó chỉ cần một làn gió nhẹ vuốt qua phiến lá cũng đủ để mấy chị em giật mình đánh thót vì tưởng bước chân của cha.

Lại thêm mấy mùa mưa. Vườn đào bị úng nước, nhiều cây bị thúi rễ nên lụi dần rồi chết khô gần nửa. Ông Hoạch càng buồn bã thất vọng, trong đầu luôn hiện lên lời trách móc của người cha quá cố: “Cha dặn rồi, sao con lại để đào chết hết thế hả”.

 ***

Thời gian trôi qua. Ông Hoạch vừa chăm nom vườn đào vừa cặm cụi ngày đêm, tằn tiện nuôi chị em Hân. Bốn “con vịt giời” lớn lên xinh đẹp, học xong cấp 3, thi đỗ vào đại học. Thắm, Hồng, Hoa đều có nghề nghiệp ổn định, lấy chồng gần nhà. Còn Hân tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp. Ôm hồ sơ xuống thành phố xin việc từ công ty nhà nước đến công ty tư nhân.

Công ty nhà nước thi tuyển công chức không đạt điểm, công ty tư nhân trả lương thấp không xứng đáng với chất xám bỏ ra nên Hân xin nghỉ việc. Hân thấy mình ngả nghiêng chao đảo trước những va đập với cuộc đời. Thực sự những gì cô đang đón nhận không hề đơn giản, không giống những điều cô hình dung trong những năm tháng đang học tập trên giảng đường. Hay vì cô còn quá non nớt, vụng dại, chưa có kinh nghiệm đối mặt với những vấp váp của cuộc sống.

Chưa biết phải làm gì trong thời gian tới cô theo một khóa học pha chế tại một nhà hàng khá nổi tiếng trong thành phố. Rồi đứng quầy thu ngân cho mấy Shop bán quần áo, mỹ phẩm…

Ông Hoạch bớt uống rượu, dịu dàng, ôn tồn hơn. Hầu như cả ngày chỉ ở trong vườn đào, cái bóng lệnh khệnh lọt tõm trong ánh nắng đan xéo trên từng vạt lá đào xanh lấp lóa.

Dần dần, thú chơi đào của người dân cũng đã khác xưa. Tiếng đồn nhà ông Hoạch có vườn đào quý lan ra. Giáp Tết, thương lái khắp nơi lục tục kéo về xóm Rú, vào tận vườn đào để gạ gẫm đặt cọc. Nhưng ông bảo, ngày xưa mình ông  nuôi bốn đứa con gái nheo nhóc, trải qua bao mùa lũ lụt, đói kém, Tết đến túng thiếu đủ đường mà cha con ông cũng vượt qua, nhất định không bán dù chỉ một gốc. Bởi vườn đào là máu thịt của ông, gắn với bao kỷ niệm trầm ai của cái gia đình này. Ông không nỡ nhìn cảnh người ta đào bới, chặt chém nó. Xót xa lắm.

Ai nấy đi qua vườn đào đẹp như tranh vào độ cuối Chạp hằng năm cũng lắc đầu bảo ông Hoạch là người gàn dở, ẩm ương.

***

Đêm đầu tiên về nhà, Hân hầu như không ngủ. Cô ra ngoài nghe vườn đào thì thầm trong gió. Tiết trời đầu thu đang nhích dần từng chút vào trong tán rừng lênh loang màu trăng nhạt. Ký ức tuổi thơ vời vợi gợi nỗi buồn sâu thẳm cùng nỗi thương cha, nhớ mẹ…như gần như xa.

Mọi chuyện tưởng đã qua, không ngờ hôm nay về nhà, nghe tiếng cha lặp lại điệp khúc: “Mẹ nào con nấy…”. Hân lại chạnh lòng tủi thân, có cảm giác mình đang bước loay hoay trong cái vòng tròn u ám đặt giữa ngôi nhà hằn in vết cũ. Lòng cô bỗng trào dâng một nỗi buồn.

…Có cái gì đó thật mạnh mẽ, thật cứng rắn đang hối thúc cô. Giục giã cô phải ra đi.

***

Chiều nghiêng vạt nắng.

Những đồi chè nhấp nhô như sóng lượn loáng mướt hơi sương.

Hân xuống xe. Hỏi đường vào Trại Cài, vùng đất trung du ngập tràn nắng gió nổi tiếng với những đồi chè trập trùng mướt mát và những cô thôn nữ xinh đẹp. Nơi đây vào năm thứ tư đại học cô đã về thực tập 3 tháng. Trong khóa thực tập đó  ngoài việc hoàn thành khóa luận về chuyên ngành “Khoa học cây trồng” từ việc nghiên cứu quá trình sinh trưởng của cây chè.

Hằng ngày cô mê mải ngắm cảnh sắc núi đồi, sông hồ thơ mộng, ngắm những đồi chè êm ả như trôi theo tận chân mây, chạm tới ánh mặt trời, ôm ấp vào từng phiến lá xanh bao ngọt thơm tinh túy của thiên nhiên. Trong lòng cô dấy lên niềm khao khát được sống tự do, được làm những gì mình thích ở vùng quê này.

Ngày đó nhóm sinh viên ở trọ trong nhà chị Tâm, người phụ nữ đơn thân, là nghệ nhân làng chè Trại Cài. Nhà chị ở dưới chân một ngọn đồi phủ bóng cây rười rượi.

Cũng đã hơn ba năm. Những khu du lịch sinh thái, khu resort trải dài dưới những triền đồi, bên những bờ sông, bờ hồ lặng sóng yên bình. Vùng quê này đổi mới nhanh quá, Hân ngẫm nghĩ, lòng vui vui và nhận ra thiêu thiếu một cái gì đó ở đây…

Mải vẩn vơ, Hân không biết chân mình đang men theo khúc cua hẹp đầy lá rụng. Một ngôi nhà nhỏ xinh bạc màu ngói cũ, bức tường sơn vôi trắng đã mọc đôi chút rêu xanh. Cái cổng bằng gỗ thông, lối đi rải sỏi trắng, hai bên cổng là mấy bụi mận, đào chen chân dưới những gốc chè cổ thụ cao quá đầu người.

Gió mùa thu mang theo hương chè ngòn ngọt như thể nếm được ở đầu lưỡi.

Căn bếp nhỏ bập bùng ánh than đỏ đượm.

Chị Tâm ngồi bên bếp, hai má chín rựng, tóc búi cục tròn vo sau gáy. Đôi tay chị cầm hai cái muôi gỗ mỏng dẹt có cán dài đảo chè dẻo như múa. Những búp chè khô săn nhảy vòng tròn trong lòng chảo phát ra tiếng lách ta lách tách vui tai. Thấy Hân đi vào chị reo lên:

- Ôi, Hân ! Bất ngờ quá! Vào đây, vào đây em.

Không để cho Hân kịp nói câu nào, chị rối rít:

-  Lần này phải ở lại với chị thật lâu đấy nhớ.

Hân  ngập ngừng:

- Dạ. Lần này chắc em… ở lâu chị ạ…

Trả lời chị Tâm xong Hân lại có cảm giác hụt hẫng. Cô chợt nhớ quê, nhớ những quả đồi đầy cây dại, nhớ cả vườn đào, vườn cây trái rau cỏ của cha. Ngày Hân đi, ông Hoạch ứa nước mắt. Cái cục yết hầu nơi cổ họng ông cứ trồi lên truột xuống. Mãi một lúc lâu ông mới thốt ra được một câu nghèn nghẹn:

- Thôi thì tùy con. Con đi rồi về với cha, đừng như…

Đêm đầu tiên ở xứ chè, chị Tâm rủ rỉ nói cho Hân nghe đủ thứ chuyện liên quan đến cây chè. Từ cách hái chè, phơi chè rồi sao chè bằng bếp củi… Chị bảo:

- Giờ các loại máy móc, lò sao hiện đại đầy ra rồi nhưng chị vẫn thích sao chè bằng bếp củi. Nhờ mùi khói bếp, nhờ hương lửa nồng đượm mà hương vị chè mới đậm đà riêng biệt em ạ.

Hân lim dim mắt, nghe tiếng gió đưa nôi qua đồi chè vi vút.

Cô thấy mình mặc một chiếc váy xanh có đính những bông hoa đào hồng phớt trước ngực. Cô bay chấp chới  trên mặt hồ, lại rướn người đu đưa trên những luống chè uốn lượn như những con rắn màu xanh. Cô mải miết bay về quê, thấy vườn đào tan hoang, lồi lõm, chỉ còn lại mấy cái hố sâu hoắm đen ngòm đọng nước.

Ông Hoạch ngồi thẫn thờ bên mấy gốc đào trơ khấc, ri rỉ những dòng nhựa đặc quánh màu hổ phách. Thấy Hân đang cầm tà váy quay tròn giữa sân, ông bẻ một nhành đào, tuốt lá. Vừa đuổi vừa gầm gừ: “Đồ con gái con lứa, bỏ nhà bỏ cửa mà đi. Đúng là mẹ nào con nấy. Lại còn múa máy cái nỗi gì, váy xống cái gì, lại còn đính hoa đào nữa. Cút…”

Sáng ra. Hân tỉnh giấc hồi lâu mà mồ hôi vẫn còn râm rấp trán. Trong lòng chưa hết nỗi hoang mang với sự lựa  chọn của mình.

Cô vội gọi video về cho cha:

- Cha à, cha cầm điện thoại ra vườn đào cho con xem....

Ông Hoạch lia camera vào những cành đào đang bật mầm nhu nhú:

- Đây này con gái, vườn đào còn nguyên, Tết con về sẽ đẹp lắm.

Cuộc trò chuyện của hai cha con chỉ từng nấy thông tin nhưng Hân thấy ấm lòng và yên tâm phần nào.

Bây giờ đang vào đợt thu hoạch chè. Từ dưới đường lớn nhìn lên, đồi chè nom như cái chảo màu xanh khổng lồ úp ngược. Những vành nón trắng, những chiếc khăn bông sặc sỡ quấn đầu, những chiếc gùi đung đưa… làm Hân liên tưởng đến một nét vẽ đang chuyển động với đủ các hình thù đẹp mắt.

Chỉ mấy buổi nghe chị Tâm hướng dẫn rồi làm theo chị và mọi người Hân đã tương đối thạo các công đoạn hái, phơi, sao chè... Chị Tâm vui lắm bảo Hân có duyên với cây chè, lại có kiến thức chuyên môn nữa nên học đến đâu là nhớ đến đó.

Rồi nỗi băn khoăn, sự chênh vênh, lạc lõng trong những ngày đầu mới đến đất khách quê người cũng qua đi. Thời gian rảnh, Hân nghiên cứu thêm cách phòng trừ sâu bệnh cho chè an toàn không độc hại và ôn lại kiến thức về pha chế.

Cuối năm. Hương sắc mùa xuân tràn ngập trên các triền đồi ở Trại Cài.

Hoa chè cum cúp thơm ngát. Hoa mận, hoa đào đơm nụ ủ bông.

Bây giờ Hân đã phát hiện ra, ở Trại Cài các khu du lịch sinh thái đã phát triển rầm rộ nhưng giữa miền đất hữu tình này vẫn thiếu hình ảnh của những quán trà bình dân mộc mạc. Tại sao lại không thể xuất hiện các quán trà nho nhỏ giữa đất chè phong phú mênh mông này nhỉ. Hân đem suy nghĩ ấy thổ lộ với chị Tâm. Chị đồng ý ngay bởi đó cũng là dự định kinh doanh chị ấp ủ từ lâu.

Toàn bộ số tiền dành dụm từ hồi sinh viên và trong thời gian đi làm thêm Hân đầu tư cho quán trà khởi nghiệp. Số còn thiếu cô định sẽ gọi điện hỏi vay các chị gái.

Hôm đó, Hân đang cùng với kiến trúc sư chỉnh sửa đôi chút trong bản thiết kế để tạo vẻ độc đáo, ấn tượng cho quán thì có tin nhắn Messenger. Là tin nhắn của ông Hoạch: “Con gái út! Nghe tin con mở quán trà. Cha vui lắm. Con lập nghiệp nơi đất khách quê người cha không giúp được chi. Cha đã quyết bán hết vườn đào để dành cho con một khoản tiền thêm vốn kinh doanh…”

Ôi, cha ơi! Hân kêu lên, chợt thấy mắt mình ậc nước.

***

Trong một thời gian ngắn, cái quán trà khiêm nhường nép trong khu vườn bên triền đồi yên ả, xanh mát cỏ cây, tách biệt với những ồn ào bụi bặm ở bên ngoài… dần dần hình thành. Quán trà được trang trí bằng những bức tranh giấy về hoa đào, hoa chè, những bộ bàn ghế bằng tre thấp nhỏ, vừa vặn thổi hồn quê kiểng. Một cái kệ sách, vài cái kệ trưng bày các sản phẩm trà xanh Trại Cài, dăm bộ ấm chén Bát Tràng xinh xinh…Cô chủ quán trẻ măng nói giọng miền Trung từ tốn, thong thả pha trà mời khách.

Từ khi có quán trà những bụi đào bên cổng nhà chị Tâm hoa nở nhiều vô kể. Mỗi sáng sớm, con ngõ nhỏ như có hàng ngàn cánh bướm màu hồng đáp đất.

Hân nảy ra sáng kiến hái những bông hoa đào còn ngậm sương, thả vào mỗi chén trà xanh sóng sánh một bông còn nguyên vẹn sắc màu hương vị, tạo điểm nhấn độc lạ, tinh tế.

Mấy ngày sau đó, khách đến quán thấy chiếc biển gỗ mộc với cái tên: “Trà hoa đào quán” treo trên thân cây chè cổ, sát với cành đào rung rinh ngàn cánh hoa hồng hàm tiếu.

Ở nơi này, Hân muốn gom nỗi nhớ, gom những búp trà thơm ngọt vị hoa đào gửi về cho cha.

Cô không biết rằng, vườn đào của cha vẫn còn một cây khỏe nhất đang bắt đầu ươm sắc.