Trà Tết của ba

Nguyễn Văn Nhật Thành 18:00, 04/03/2026

Chiều cuối năm, nắng Xuân đã bắt đầu hong ấm mái hiên, tôi thấy ba ngồi bên bàn gỗ cũ, tay thoăn thoắt mở gói quà vừa nhận từ bưu điện. Bên trong là hộp trà mang thương hiệu Thái Nguyên, thứ quà mà năm nào ba cũng được nhận, từ một người bạn cũ thời chiến trường xa xưa. Tôi lặng im nhìn ba, thấy ánh mắt ông ánh lên một niềm vui lặng lẽ, như thể Tết đã thực sự về.

Minh họa: Dương Văn Chung
Minh họa: Dương Văn Chung

Ba bảo: “trà này là của thằng Tình gửi, năm nào nó cũng nhớ”. Giọng ba khẽ run, pha chút nghèn nghẹn. Chú tình là đồng đội của ba thuở ấy, người từng cùng ba chia chung những đêm hành quân giữa rừng Trường Sơn mịt mù sương, cùng nhau chia từng ngụm nước, mẩu bánh và cả những phút sinh tử bên bờ chiến hào. Sau ngày đất nước hòa bình, mỗi người về một miền, cuộc đời tách đôi như hai nhánh sông nhưng sợi dây tình đồng đội vẫn bền chặt, bền như hương trà Thái Nguyên càng ủ lâu càng thơm đậm.

Ba nâng hộp trà như nâng một kỷ vật. Mỗi cánh trà xanh cong lại như vệt ký ức uốn mình qua năm tháng. Tôi thấy ba lấy ấm sứ ra, tráng qua bằng nước sôi, rồi thả từng nhúm trà vào. Hương trà bốc lên: hương nồng, đượm và thanh. Hơi trà quyện cùng mùi khói bếp từ nhà hàng xóm, cùng làn gió lạnh se se, tạo nên một không khí Tết thật riêng.

Ba kể: “ngày xưa, ở chiến trường, hiếm lắm mới có trà mà uống”. Có lần, đơn vị ba hành quân qua vùng trung du, người dân mang tặng nắm trà khô. “Đêm ấy, tụi ba ngồi quanh bếp lửa, pha chung một ấm. Chẳng có chén, chỉ chuyền nhau bằng lon sắt cũ nhưng cái vị ấy, đắng đầu lưỡi mà ngọt mãi nơi cổ họng, nó làm ấm lòng lắm con à. Giữa cái rét rừng, ly trà nhỏ thôi mà như có lửa”.

Tôi im lặng nghe ba kể, tưởng tượng khung cảnh những người lính trẻ năm ấy: gió rừng thổi qua vai áo bạc, ánh lửa chiếu lên khuôn mặt lem bùn nhưng sáng rực. Họ đã uống trà trong khói thuốc súng, trong tiếng bom rơi và khát vọng hòa bình cháy bỏng. Có lẽ vì thế mà với ba, trà không chỉ là một thức uống, nó là ký ức, là tình nghĩa, là sự kết nối của những năm tháng không thể nào quên.

Từ ngày rời quân ngũ, mỗi dịp Tết, chú Tình đều gửi cho ba một hộp trà Thái Nguyên. Không phải loại đắt tiền, chỉ là gói trà thường nhưng được chọn kỹ, gói trong giấy bạc, buộc bằng dây đỏ cẩn thận. Trong hộp luôn có một tấm thiệp nhỏ, chữ viết nắn nót: “Chúc anh năm mới mạnh khỏe, có dịp ra Bắc thì ta lại cùng pha trà như xưa”.

Ba đọc thiệp rồi mỉm cười. Tôi thấy trong nụ cười ấy có niềm tự hào, có một thoáng hoài niệm và cả sự tri ân sâu sắc. Ba bảo, “có nhiều người quên nhau sau chiến tranh, nhưng chú Tình thì không”. Chú nói, mỗi lần nghe tiếng ấm nước sôi là lại nhớ anh em Trường Sơn.

Đêm Giao thừa, ba lại pha ấm trà ấy. Cả nhà quây quần bên nhau, mùi bánh chưng còn thơm trong gian bếp, mùi nhang Tết lan nhẹ trên bàn thờ. Ba rót chén trà đầu tiên dâng lên ông bà rồi chậm rãi rót cho từng người. Hương trà lan tỏa, ấm nồng như hơi thở của mùa xuân quê nhà.

Tôi ngụm một chút, cảm nhận vị chát nhẹ, rồi ngọt dần trong cuống họng, cái vị mà ba từng nói, “giống như đời người, phải qua thử thách mới thấy ngọt ngào”.

Nhìn ba nhấp chén trà, tôi hiểu rằng đối với ông, trà Tết không chỉ là thức uống mở đầu năm mới, mà là một món quà tinh thần chứa đầy tình người. Mỗi ấm trà như gói cả một phần ký ức, một phần lòng biết ơn, và một phần niềm tin vào sự bền lâu của tình nghĩa.

Sáng mùng Một, khách đến chúc Tết, ba lại rót trà mời, kể về người bạn cũ ở Thái Nguyên, về những mùa Xuân nơi rừng núi khi còn chiến đấu. Ai cũng nghe, ai cũng gật đầu, bởi trong câu chuyện của ba, có cái tình, cái nghĩa mà hôm nay người ta ít còn thấy.

Tôi chợt nghĩ, có lẽ chú Tình gửi trà không chỉ để biếu bạn cũ mà để giữ sợi dây vô hình nối hai người lính, hai phần đời đã đi qua mưa bom, gió đạn. Và ba, khi nhận gói trà ấy, cũng như nhận lại một phần tuổi trẻ, một lời chào từ quá khứ vọng về.

Mỗi độ Tết đến, tôi lại thấy hộp trà Thái Nguyên nằm ngay ngắn trên bàn thờ, cạnh mâm ngũ quả. Ba bảo, “phải để đó, để hương trà hòa với hương Tết, cho nhà mình thêm ấm”. Và thật lạ, chỉ cần ngửi hương trà ấy thôi, tôi cũng cảm thấy lòng mình dịu lại như thể được nghe những câu chuyện của ba và đồng đội năm nào, giữa khói lửa mà vẫn chan chứa tình người.

Tết năm nay, ba đã già đi nhiều, mái tóc bạc trắng như sương. Nhưng khi mở gói trà quen thuộc, mắt ông vẫn ánh lên niềm vui giản dị. Tôi hiểu rằng, trong vô vàn món quà của đời, có những món chẳng quý vì giá trị, mà vì tình nghĩa. Giống như hộp trà Tết của Ba nhỏ bé, khiêm nhường mà đượm hương vị của ký ức, của nghĩa tình và của cả một thời đã xa nhưng chưa bao giờ cũ.