
Bản hương ước, quy ước của làng được xây dựng bởi ý chí, nguyện vọng của nhân dân và ở góc độ thực tế vận dụng vào cuộc sống được ví như "luật" của làng. Vừa tân tiến, vừa mang những giá trị truyền thống tốt đẹp, "luật" của làng ra đời đã xoá đi những tập tục sinh hoạt lạc hậu mà trước đó là cả chuỗi những câu chuyện bi thương.
Chuyện xưa nhưng chưa cũ
Năm 1987, sau khi cha già, bệnh nặng nên đã qua đời, gia đình ông Tạ Văn Sơn ở xóm Đình (xã Đông Cao, huyện Phổ Yên) cùng bà con lối xóm đã lo chu tất việc hiếu cho cụ. Cũng kể từ đó là những chuỗi ngày đầu tắt, mặt tối lo ăn đong từng bữa qua ngày với gia đình ông.
Năm 2007, đúng tròn 20 năm sau, gia đình ông Sơn mới vinh dự được xã công nhận thoát nghèo. Ông Sơn xúc động nhớ lại: Nhà có bốn khẩu chỉ vẻn vẹn 5 sào đất canh tác. Thời còn sống, cụ có chút lương, còn lại gia đình chỉ lo đủ ăn trong nửa năm, nông nhàn là cả nhà đi làm thuê khắp nơi, giáp Tết mới về. Cụ nằm xuống, dù chẳng có gì, nhưng đã là lệ làng thì không thể làm khác được. Cũng cỗ bàn, cũng lễ trên, lễ dưới. Lật từng trang sổ đã vàng ố, ông tra tìm và thống kê: Vay nóng 6 tạ thóc, hơn 3 tạ thịt lợn để làm đám, cộng với đôi lợn của nhà nuôi ròng ba năm được hơn tạ thịt, vị chi hơn bốn tạ thịt lợn, bày biện trên 60 mâm cỗ, rượu hơn trăm lít.
Ông Sơn nói: "Bây giờ nghĩ lại càng thấy hãi. Cảnh nhà tranh vách đất, chật hẹp không có cả chỗ để mọi người đứng làm lễ nữa, nên cứ chỗ nào kê được mâm là dọn cỗ, kể cả bờ tre, búi trẩu cũng kê mâm, ai cũng được ăn, cứ người của làng, bất kể già, trẻ và anh em, họ hàng đến bữa là cùng ăn, có thể lai rai từ trưa đến tối. Đã thành lệ rồi, làng có đám hiếu, đám hỉ thì cả làng nghỉ việc đồng áng".
Trong căn nhà lợp ngói ba gian mới xây năm 2003, ông Sơn vẫn chưa hết bàng hoàng về cái lệ làng ngày ấy, để đến bây giờ ông sắp được làm ông rồi mà nợ cũ vẫn chưa trả hết.
Đồng chí Ngô Xuân Trường, Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ xã Đông Cao cho chúng tôi biết: "Theo lệ cũ, như nhà tôi mà có việc thì riêng họ hàng đã có đến gần 400 người, cộng thêm xóm làng chắc phải nghìn người. Lệ làng cũng có những "luật" riêng, ví dụ như: Khi anh em trong nội tộc phải đóng góp thì cứ nhà nào góp sau phải bằng hoặc cao hơn nhà đóng góp trước, mức đóng góp được ghi chép công khai trên bảng, hoặc trên bờ tường nhà. Còn phúng thì ở nông thôn làm gì có của mà phúng! Mỗi người mang theo bơ gạo, có nhà mang cả thóc đến gọi là… Đám xong, thịt, mỡ thừa vẫn thừa, tiền của, thóc gạo thiếu vẫn thiếu".
Việc hiếu là vậy, việc hỷ cũng đầy những éo le của một thời đã không vượt qua nổi lệ làng. Theo chân đồng chí Nguyễn Văn Hà, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ xã Đông Cao, chúng tôi về xóm An Phong tìm gặp vợ chồng trẻ Đinh Văn Toản - Tạ Thị Khuê nhưng cả hai đã đi làm tại khu liên doanh ở huyện bên cạnh Sóc Sơn (Hà Nội), gửi con cho ông bà nội chăm nom.
Chuyện tình của hai người cũng thật nghiệt ngã: Năm 2000, đôi nam thanh, nữ tú cùng làng kết duyên, quyết định báo cáo hai gia đình để tổ chức lễ cưới. Tiến triển công việc đều thuận lòng hai bên nhà trai, nhà gái. Sau lễ dạm ngõ, quan viên hai họ định ngày làm lễ ăn hỏi. Và cái ngày lễ ăn hỏi của đôi bạn trẻ ấy đã trở thành cuộc đấu giá bất thành giữa hai họ, để rồi không bên nào chịu chấp nhận cho đám cưới. Toản và Khuê quyết định rời làng sang địa phương khác lao động trong bao nhiêu điều tiếng trách chê, mắng nhiếc của mẹ cha và họ hàng. Tại đây, tổ chức Đoàn thanh niên đã làm lễ cưới cho hai người và họ đã có một cuộc sống hạnh phúc, hàng tuần lại đưa nhau về thăm quê.
Đồng chí Nguyễn Văn Hà kể lại: Thực chất hai họ sống rất đoàn kết và cũng không phải giàu có, danh giá gì, nhưng vì lệ làng là phải thách cưới. Đã thách cưới thì nhà nọ nhìn nhà kia, nhà người anh em trước đó có gả con gái cho đám nào, được bao nhiêu, thì đám nhà mình phải hơn thế, không thì không bằng, rồi lại tủi thân: Đẻ con gái không được coi trọng. Đồng chí Hà cho biết thêm: Ấy là chuyện của Toản và Khuê, cũng có trường hợp vì tục lệ thách cưới mà đã không đến được với nhau. Còn nữa, đã hỏi xong thì đám hỏi được tổ chức linh đình như đám cưới ngày nay, cũng mâm cao cỗ đầy, tiệc mặn trưa thì tiệc ngọt thâu đêm luôn đến sáng, thanh niên làng trên, làng dưới tụ tập bỏ bễ công việc đồng áng, rồi lại phát sinh tệ nạn xã hội, gây rối trật tự…
Kết hợp giá trị truyền thống và hiện đại
Là một xã nông nghiệp, có trên 1.700 hộ với trên 7.700 khẩu, trong đó hơn 90% hộ dân sống bằng sản xuất nông nghiệp, vì vậy điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn. Trước những năm 2000, xã còn trên 300 hộ nghèo, nguyên nhân chính do tập quán sản xuất nông nghiệp lạc hậu, đất bỏ hong hoá nhiều chỉ làm một vụ lúa chính, các cây trồng khác đều không được coi trọng. Chính từ tập quán sản xuất lạc hậu này dẫn đến hết vụ là nông nhàn, đất bỏ hoang, thời gian và sức lao động cũng "bỏ hoang".
Năm 2000, cùng với chủ trương đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu thời vụ và đưa các giống mới và sản xuất, xã đã triển khai sâu rộng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Kết quả đến nay toàn xã chỉ còn gần 6% số hộ nghèo, thu nhập bình quân hàng năm từ sản xuất nông nghiệp đạt gần 9triệu đồng/người. Từ một xã thuần canh lúa, đến nay Đông Cao trở thành một trong những xã điểm về trồng rau, mầu chất lượng cao, trồng xen canh và chuyên canh gối vụ liên tục trong năm. Đặc biệt như xóm Việt Hồng, đã hình thành nghề chuyên trồng rau giống, hàng năm thu nhập đạt trên 14 triệu đồng/người/năm.
Kinh tế phát triển, phương thức làm ăn, nếp sống và cách nghĩ của người dân cũng thay đổi, cái đích cuối cùng ai cũng phải phấn đấu là: Làm giầu chính đáng, cho con, cháu có điều kiện ăn, học tốt hơn. Từ năm 2006, 100% khu dân cư trong toàn xã đã xây dựng được hương ước, quy ước và từ đó đến nay, các xóm thường xuyên bổ sung, điều chỉnh nội dung bản hương ước, quy ước được cơ quan Thường trực Ban chi đạo Cuộc vận động của huyện phê duyệt. Năm 2008, Đông Cao có bốn xóm được công nhận Khu dân cư điển hình tiên tiến, trên 80% gia đình đạt danh hiệu Gia đình Văn hoá.
Quá trình tổ chức và triển khai phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư ở Đông Cao cũng gặp không ít khó khăn, đó là phải vượt qua được những tập quán sinh hoạt cũ, vượt qua những định kiến mà lệ làng đã để lại. đồng chí Nguyễn Văn Hà, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ xã cho chúng tôi biết: "Quan hệ làng xóm ở nông thôn là cố kết bền vững, khi đã thành tập tục, thành nếp thì rất khó phá bỏ. Nhưng muốn thay đổi cũng không khó, vấn đề là ai đứng ra tổ chức, ai dám nói và làm. Có những việc ai cũng biết là lạc hậu, nhưng không dám tự ý từ bỏ vì sợ mang tiếng. Trước vấn đề này, Đảng uỷ xã đã họp bàn và giao nhiệm vụ cho các tổ chức đoàn thể chính trị phải vào cuộc, trước hết là gương mẫu vận động từ nhà mình, họ nhà mình và hàng xóm mình".
Về Đông Cao giờ đây không còn những câu chuyện buồn việc ma, việc cưới nữa, tất cả đã đổi thay. Bất cứ nhà ai có việc, nhất là việc hiếu đều được Ban điều hành đám hiếu của xóm đứng ra phối hợp với gia đình tổ chức đúng nghi lễ, trang nghiêm, tiết kiệm, tuyệt đối không dùng thuốc, dùng rượu trong đám, không tổ chức ăn trưa quá 60 phút, người phục vụ, Ban điều hành không ăn cơm, mà ai về nhà nấy, đến giờ lại có mặt. Ăn hỏi cưới cũng vậy, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ phố hợp tổ chức bảo đảm chỉ vui trong góc độ của nội bộ gia đình và không tổ chức đám, không tổ chức cỗ bàn mời khách. Có những thôn như khu vực Nam Đô (xóm Nghè, xóm Trung Đình) xây dựng quy ước để bảo đảm an ninh trật tự, sau 22h đêm người qua địa bàn xóm phải mang theo đèn và bật sáng, không bật đèn sẽ bị tổ an ninh tự quản kiểm tra. Hầu hết các khu dân cư trong xã vẫn lưu giữ được nét đẹp truyền thống là xây dựng quỹ khuyến học và tôn vinh con cháu trong họ tộc học hành thành đạt, hàng năm biểu dương vào dịp kết thúc năm học, hoặc làm lễ báo công dâng hương tổ tiên tại đền Giá dịp đầu xuân. Điển hình như dòng họ Ngô, dòng họ Tạ, dòng họ Trần, dòng họ Đinh…
Xây dựng được quy ước và hương ước, bộ mặt nông thôn từng bước được cải thiện, các công trình phúc lợi được nhân dân nâng cao trách nhiệm tôn tạo và đầu tư xây dựng. Năm 2008, toàn xã đã huy động được trên 200 triệu đồng sức dân đóng góp bằng cả tiền và công lao động xây dựng được gần 2000m đường bê tông liên xóm, bảo đảm thông xe ô tô khắp các xóm trong xã, xoá một nhà tạm cho hộ đặc biệt khó khăn trị gia trên 60 triệu đồng, tôn tạo các nhà văn hoá trị giá trên 50 triệu đồng.




