Có những vùng đất được nhớ đến bởi danh lam thắng cảnh, có nơi nổi tiếng bởi một nghề truyền thống. Với Thái Nguyên, nhắc đến là nhắc đến chè. Hơn một thế kỷ trước, cây chè bén rễ trên những triền đồi trung du. Hơn một thế kỷ sau, từ chính những đồi chè ấy, một khát vọng mới đang hình thành: Đưa chè Thái Nguyên trở thành ngành kinh tế có giá trị 25.000 tỷ đồng vào năm 2030.
Khát vọng ấy không bắt đầu từ việc mở rộng diện tích hay tăng sản lượng, mà từ sự thay đổi trong tư duy phát triển: từ sản xuất chè sang phát triển kinh tế chè; từ bán sản phẩm sang bán giá trị; từ một đặc sản địa phương hướng tới ngành hàng có sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Bài 1: Giá trị thật của một búp chè
![]() |
| Phóng viên trao đổi với nghệ nhân Nguyễn Thị Hải, xã La Bằng về bí quyết chế biến chè truyền thống. |
Nếu hỏi người làm chè Thái Nguyên hôm nay một búp chè đáng giá bao nhiêu, rất ít người còn trả lời bằng giá một cân búp tươi hay một cân chè khô. Trong những ngày có mặt tại các vùng chè Tân Cương, La Bằng, Trại Cài, Quân Chu, Đồng Phúc..., điều chúng tôi nghe nhiều nhất không còn là câu chuyện sản lượng, mà là chuỗi giá trị, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn quốc tế, hay thương hiệu.
Những khái niệm vốn chỉ quen thuộc trong các diễn đàn kinh tế nay đã trở thành câu chuyện thường nhật của người làm chè. Điều đó cho thấy, Thái Nguyên đang thay đổi không chỉ ở cây chè mà ở cách làm kinh tế từ cây chè.
Người làm chè không chỉ biết làm chè
Buổi sớm ở La Bằng vẫn bình yên như bao ngày. Sương còn phủ trên những nương chè, người dân đã tỏa đi hái từng búp "một tôm hai lá". Chỉ cần nhìn màu lá, chạm nhẹ đầu ngón tay hay cảm nhận độ non của búp chè, họ đã biết nên hái hay giữ lại.
Trong căn nhà nhỏ của Hợp tác xã (HTX) Chè La Bằng, nghệ nhân Nguyễn Thị Hải cẩn thận đưa nhúm chè vừa sao lên mũi, hít nhẹ rồi mỉm cười hài lòng. Hơn 30 năm gắn bó với nghề giúp bà cảm nhận hương chè bằng kinh nghiệm mà máy móc khó có thể thay thế.
"Tôi vẫn nói với lớp trẻ rằng làm chè phải biết nghe mùi của chè. Nhưng bây giờ chỉ làm chè ngon thôi chưa đủ, người làm chè còn phải hiểu thị trường cần gì, người tiêu dùng mong muốn điều gì và sản phẩm của mình khác biệt ở đâu", bà Hải chia sẻ.
![]() |
| Lãnh đạo tỉnh khảo sát vùng chè La Bằng, nhằm định hướng phát triển ngành chè theo hướng hiện đại, bền vững. |
Câu chuyện của bà Hải cũng là suy nghĩ chung của nhiều người làm chè hôm nay. Nếu trước đây, mục tiêu lớn nhất là làm ra nhiều chè và bán được giá thì nay, điều họ quan tâm là tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và chinh phục những thị trường khó tính.
Sự chuyển biến ấy thể hiện rõ tại HTX Chè Hảo Đạt. Trong khu nhà xưởng còn thơm mùi chè mới, bà Đào Thanh Hảo, Giám đốc HTX, không nói nhiều về sản lượng hay doanh thu mà nhấn mạnh yếu tố quyết định là niềm tin của khách hàng. "Thị trường bây giờ rất khác. Khách hàng không chỉ mua một gói chè ngon mà còn muốn biết chè được trồng ở đâu, chăm sóc như thế nào, có an toàn hay không. Nếu không xây dựng được vùng nguyên liệu đạt chuẩn, không kiểm soát toàn bộ quy trình sản xuất thì rất khó giữ thị trường, chứ chưa nói đến xuất khẩu", bà Hảo nói.
Theo bà Hảo, HTX nhiều năm qua liên tục đầu tư vùng nguyên liệu sạch, áp dụng VietGAP, ứng dụng công nghệ chế biến và xây dựng thương hiệu. Với HTX, đầu tư cho tiêu chuẩn và thương hiệu không phải là chi phí mà là cách để mỗi búp chè tạo ra giá trị cao hơn.
Qua những câu chuyện ấy có thể thấy, người làm chè Thái Nguyên không còn đặt mục tiêu mở rộng diện tích mà tập trung nâng cao giá trị trên cùng diện tích hiện có. Đây cũng là con đường nhiều quốc gia có ngành trà phát triển đã lựa chọn. Giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở nguyên liệu mà còn được tạo nên bởi thương hiệu, công nghệ chế biến, bản sắc văn hóa và khả năng tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng.
![]() |
| Những búp chè non là nguyên liệu tạo nên hương vị đặc trưng của chè Thái Nguyên. |
Trong khi đó, dù luôn nằm trong nhóm các quốc gia xuất khẩu chè lớn trên thế giới, giá trị gia tăng của chè Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Năm 2025, cả nước xuất khẩu 136.952 tấn chè, đạt kim ngạch gần 238 triệu USD. Giá xuất khẩu bình quân chỉ đạt 1.644-1.737 USD/tấn, tương đương 55-65% mức bình quân của thế giới.
Những con số đó cho thấy dư địa nâng cao giá trị của chè Việt Nam còn rất lớn nếu thay đổi cơ cấu sản phẩm và chiến lược thị trường. Với Thái Nguyên, danh xưng "Đệ nhất danh trà" vì thế chưa bao giờ là đích đến mà là nền tảng để bước vào cuộc cạnh tranh mới, nơi giá trị được quyết định bởi thương hiệu, công nghệ và năng lực chinh phục thị trường.
Thể chế mở đường cho ngành kinh tế chè
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, chỉ bán nguyên liệu sẽ khó tạo đột phá. Muốn nâng tầm chè Thái Nguyên cần phát triển một ngành kinh tế chè hoàn chỉnh, nơi giá trị được tạo ra từ toàn bộ chuỗi sản xuất, chế biến, thương mại, văn hóa và du lịch. Đó cũng là lý do Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 3/2/2025 về phát triển ngành chè Thái Nguyên giai đoạn 2025-2030, xác định mục tiêu đưa cây chè trở thành ngành kinh tế có giá trị cao, hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế.
![]() |
| Chè Thái Nguyên đang từng bước khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế. |
Sau hơn một năm triển khai, ngành chè tiếp tục phát triển. Đến hết tháng 6-2026, toàn tỉnh có 22.200ha chè, đạt trên 98% kế hoạch năm; sản lượng chè búp tươi đạt 127.460 tấn, tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những trung tâm sản xuất chè lớn nhất cả nước.
HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 08/2025/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ phát triển ngành chè giai đoạn 2025-2030 với tổng nguồn lực dự kiến trên 500 tỷ đồng. Chính sách hỗ trợ được triển khai toàn diện, từ phát triển vùng nguyên liệu, chứng nhận VietGAP, hữu cơ, cấp mã số vùng trồng đến chế biến sâu, bảo hộ sở hữu trí tuệ, xúc tiến thương mại và phát triển du lịch trà.
Đến hết tháng 6-2026, toàn tỉnh có 6.669,8ha chè đạt chứng nhận VietGAP và hữu cơ, chiếm khoảng 30% diện tích chè. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và gia tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.
Ông Dương Sơn Hà, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho rằng điều quyết định tương lai ngành chè không phải mở rộng diện tích mà là tổ chức lại chuỗi giá trị. Khi Nhà nước kiến tạo thể chế, doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, nhà khoa học đồng hành với sản xuất và người dân làm chủ vùng nguyên liệu, giá trị cây chè sẽ được nâng lên ở tất cả các khâu.
Đó cũng là cách làm khác biệt của Thái Nguyên: Không chỉ hỗ trợ người trồng chè mà xây dựng cả hệ sinh thái phát triển, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp đầu tư và mở rộng thị trường, nhà khoa học cung cấp tri thức, còn người nông dân là chủ thể của vùng nguyên liệu chất lượng cao.
Một thế kỷ trước, cây chè giúp người dân có cái ăn, cái mặc. Hôm nay, trên những triền đồi ấy, mục tiêu đã khác. Người làm chè đang hướng tới tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi búp chè, mang theo thương hiệu, văn hóa và niềm tự hào của vùng đất "Đệ nhất danh trà".
Tư duy đã thay đổi, thể chế đã được kiến tạo. Tuy nhiên, từ một vùng chè nổi tiếng đến một thương hiệu toàn cầu vẫn còn chặng đường dài. Con đường ấy cần thêm vốn đầu tư, công nghệ, thị trường và những đối tác chiến lược đủ lớn để cùng hình thành chuỗi giá trị mới. Bởi vậy, ngay từ đầu năm 2026, Thái Nguyên đã liên tiếp tổ chức các chương trình xúc tiến đầu tư, kết nối doanh nghiệp quốc tế, quảng bá thương hiệu "Đệ nhất danh trà", mở thêm những cánh cửa mới cho ngành chè.
|
Những con số nổi bật: Mục tiêu đến năm 2030, ngành chè Thái Nguyên đạt giá trị 25.000 tỷ đồng. Đến hết tháng 6-2026, toàn tỉnh có 22.200ha chè, đạt trên 98% kế hoạch năm; sản lượng chè búp tươi đạt 127.460 tấn. Có 6.669,8ha chè đạt chứng nhận VietGAP và hữu cơ, chiếm khoảng 30% tổng diện tích chè. Giai đoạn 2025-2030, tỉnh dự kiến bố trí trên 500 tỷ đồng để hỗ trợ phát triển ngành chè. |











Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin