Ông nội tôi

Phùng Hằng 08:35, 29/06/2026

Mùa Hè đến, cái nắng bắt đầu trở nên gay gắt, chói chang. Những chùm hoa bằng lăng chuyển dần từ màu hồng nhạt sang màu tím đặc trưng, báo hiệu thời tiết nắng nóng. Lời bài hát ru cháu đâu đó cất lên giữa trưa hè yên ả khiến ai chú ý lắng nghe đều không khỏi xao xuyến tâm hồn. Tôi chợt nhớ đến ông nội, bao nhiêu ký ức tuổi thơ lại ùa về.

 

Trong trí nhớ của tôi ông nội là một người ít nói, nghiêm khắc nhưng rất yêu thương con, cháu. Bà nội tôi mất từ khi bố tôi chưa đầy bảy tuổi. Một mình trong cảnh “gà trống nuôi con”, ông dồn hết tình thương và sự chăm dưỡng chu đáo cho bố tôi. Có lẽ vì thế mà bố tôi đã có sự thành đạt, trở thành giảng viên của trường Đại học Sư phạm. Vì công tác xa trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra khốc liệt nên bố tôi ít khi về nhà. Mẹ tôi là giáo viên của một trường Tiểu học, cũng thường xuyên bận lên lớp và giúp học sinh sơ tán trong chiến tranh nên phần nhiều thời gian chị em tôi sống cùng ông nội, được ông dạy dỗ, chăm sóc. Tôi là chị cả, sau tôi có bốn cậu em trai. Tôi còn nhớ, những buổi trưa hè nóng nực, sau bữa cơm, ông nhắc tôi và ba cậu em trai lên giường ngủ. Còn cậu em út mới hơn một tháng tuổi được ông bồng bế, dỗ dành. Ông đặt em lên võng, đung đưa nhẹ nhàng và hát ru cho em ngủ. Ông ru bằng tiếng Tày. Giọng ông trầm trầm, âm âm nghe như tiếng gió thổi qua cánh rừng già:

Nòn đắc…. ơ…. nòn đi…

Mé tan nà chang nâư

Au khẩu mà hắt pẻng

Pắt tua luồm pác đeng

Pắt tua mèng pác đăm …

Nòn đắc…. ơ…. nòn đi…

(Ngủ say nào… ơ… ngủ ngoan…

Mẹ đang gặt giữa cánh đồng

Đem thóc về làm bánh

Bắt con muỗng miệng đỏ

Bắt con châu chấu miệng đen…

Ngủ say nào… ơ… ngủ ngoan…)

Lời ru êm êm của ông đưa chị em tôi chìm dần vào giấc ngủ. Tôi thấy mình như đang bay trên cánh đồng vàng óng, dập dờn sóng lúa. Có buổi chiều thật tĩnh, các em tôi đang chơi đùa với nhau, ông gọi lại và dạy các em thêm vốn tiếng Việt thông qua những cặp từ đối sánh Tày –- Việt nối vần rất dễ nhớ như: “soong cần –- hai người, chả cười –- ná khua, khẩu nua –- cơm nếp, khẩu phước –- cơm khoai, bàn mai –- phả lủa, khẩu khủa –- cơm rang, mạy khoang –- cây trúc, mác pục - – quả bưởi…”. Các em tôi đọc theo ông và hồn nhiên cười khúc khích. Đến khi đi học có rất nhiều từ tiếng Việt do được ông dạy trước nên các em tôi không còn bỡ ngỡ…

Ngày ấy cuộc sống ở nông thôn miền núi gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ. Người dân vừa tăng gia sản xuất, vừa phải đối mặt với những trận mưa bom bão đạn giặc Mỹ dội xuống bất cứ lúc nào. Có nhiều đêm, giữa canh khuya tôi chợt giật mình tỉnh giấc, thấy ông ngồi yên lặng trong bóng tối, điếu thuốc lá hút dở còn ngậm trên môi. Tôi hỏi: “Ông ơi, sao ông không ngủ?”. Ông trả lời thật nhỏ: “Cháu ngủ đi. Để ông canh máy bay giặc. Nếu có tiếng kẻng báo động ông sẽ gọi các cháu dậy chạy xuống hầm trú ẩn cho kịp”. Nhìn dáng ông nghiêng nghiêng trong đêm, gương mặt trầm ngâm mà điềm tĩnh, tôi thấy lòng mình bình an nhưng cũng thương ông vô cùng. Cuộc sống thời chiến gian khổ là vậy, nhưng những con người miền núi như ông dường như càng trở nên bình thản hơn, tỉnh táo hơn, can đảm hơn. Hằng ngày học sinh vẫn đội mũ rơm lên lớp học, các bà, các mẹ vẫn tranh thủ gặt lúa, thăm đồng. Ông nội tôi vẫn nhẹ nhàng hát ru cháu ngủ trong những buổi trưa hè nắng rát không có tiếng máy bay địch gầm rú trên bầu trời. Có một lần, quê tôi bị máy bay giặc bắn phá dữ dội, bom đạn đốt cháy nhà cửa, cày nát những thửa ruộng trên cánh đồng làng. Các anh, chị dân quân dũng cảm, kiên cường chiến đấu và đã bắn rơi chiếc máy bay của địch. Máy bay bốc khói đen kịt cả một góc trời. Tên giặc lái còn sống nhưng bị thương rất nặng. Băng bó cho hắn xong, các anh, chị dân quân đặt hắn nằm lên cáng để đưa lên thị trấn giao cho Huyện đội quản lý. Lũ trẻ chúng tôi vừa bước ra khỏi hầm trú ẩn, mặt mũi lem luốc, quần áo bám đầy bụi đất. Căm giận vì giặc lái nên chúng tôi đứa cầm gậy gộc, đứa vác xẻng chờ khi tên giặc lái được khênh qua làng sẽ giáng cho hắn một trận đòn đáng đời. Thấy vậy, ông nội tôi liền bảo: “Các cháu không được đánh, giặc lái cũng là người. Bây giờ nó bị thương nặng thế, nó sẽ không làm hại ai được nữa đâu!”. Nghe ông nói, lũ trẻ chúng tôi dịu lại. Tôi nhìn ông nội, khoảnh khắc ấy, dường như trong thẳm sâu đôi mắt ông vừa ánh lên những tia căm giận, đau khổ, xót xa, vừa ánh lên những tia nhân ái, bao dung, độ lượng. Lúc ấy, với suy nghĩ của một đứa trẻ, tôi không hiểu nổi vì sao ông có thể kìm nén sự tức giận trong lòng khi đứng trước tên giặc lái vừa tàn phá bản làng. Chỉ sau này, khi lớn lên, tôi mới thấm thía rằng, lòng nhân ái ấy chỉ có thể có được ở những con người yêu quê hương tha thiết, những con người kiên trung vượt qua sự khốc liệt của chiến tranh để giữ đất, giữ làng và ngẩng cao đầu trước kẻ thù.

Những năm tháng ấy cuộc sống ở làng quê thiếu thốn đủ thứ, từ thức ăn hằng ngày, quần áo mặc đến sách vở, đồ dùng học tập... Để chống rét, ông nội tôi luôn phải mặc chiếc áo dạ cũ kỹ, xẹp lép và rất nặng. Ông mong ước có một chiếc áo ấm, thật nhẹ phù hợp với sức khỏe của mình nhưng không có được…

Rồi chiến tranh kết thúc, đất nước hoàn toàn giải phóng. Quê tôi ngày một thay da đổi thịt. Chị em tôi lớn dần lên và tiếp tục đi học. Ông nội vẫn luôn nhắc nhở chúng tôi về đức tính trung thực, tinh thần trách nhiệm và ý thức vươn lên trong cuộc sống… Đến năm 1996 ông về với tổ tiên, thọ tròn 100 tuổi. Ngày ông đi xa chị em tôi thất thần, ngơ ngác như đánh mất một báu vật quý giá, thiêng liêng. Cậu em út mặc dù đã lớn nhưng cũng không giấu nổi xúc động, bỏ trốn vào góc nhà, đứng úp mặt vào chiếc rương đựng thóc, khóc nức nở. Còn tôi, khi đêm về, nỗi nhớ thương ông khiến tôi trằn trọc mãi. Tôi đã mơ thấy ông, vẫn dáng người cao cao, nhanh nhẹn, vẫn bộ quần áo nâu giản dị ông mặc thường ngày. Ông nhìn tôi ánh mắt vời vợi yêu thương. Ông mỉm cười rồi quay lưng đi về phía dãy núi xa xa ở bìa làng. Tôi cất tiếng gọi ông, gọi mãi. Tiếng gọi của tôi va vào núi rồi chìm dần vào không gian tĩnh mịch, mênh mông…

Mặc dù ông nội tôi về miền mây trắng đã lâu, nhưng những ký ức của tôi về ông không bao giờ mờ phai. Ký ức ấy gắn liền với một thời kỳ chiến tranh gian khổ nhưng cũng đầy quyết liệt. Ở đó có những con người miền núi quê tôi chân chất, mộc mạc, yêu đời, yêu quê hương, giàu lòng nhân ái và đầy quả cảm. Ở đó có ông nội tôi với tình yêu thương đầy ắp và những giá trị tốt đẹp của người Tày mà suốt cuộc đời ông đã gìn giữ, nâng niu để gửi gắm, truyền lại trong tâm hồn con cháu.