Truyện ngắn Thái Nguyên: Hành trình và thành tựu

Hồ Thủy Giang (Thực hiện) 08:49, 26/06/2026

LTS: Trong dòng chảy văn học địa phương, truyện ngắn luôn là một thể loại giữ vị trí quan trọng, ghi dấu những tìm tòi sáng tạo và phản ánh sinh động đời sống con người, xã hội. Từ những thế hệ nhà văn đi trước đến đội ngũ cầm bút hôm nay, truyện ngắn Thái Nguyên đã trải qua nhiều chặng đường thăng trầm, từng bước khẳng định bản sắc và những thành tựu đáng ghi nhận. Trong chuyên mục Bàn tròn văn chương số 2 tháng 6/2026, Ấn phẩm Văn nghệ Thái Nguyên giới thiệu cuộc trao đổi giữa các nhà văn Hồ Thủy Giang, Nguyễn Đức Hạnh, Nông Văn Kim và Đào Nguyên Hải về hành trình phát triển, những dấu ấn nổi bật, những vấn đề thi pháp và triển vọng của truyện ngắn Thái Nguyên trong đời sống văn học đương đại.

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Thưa anh Nguyễn Đức Hạnh, thường thì phong trào sáng tác văn chương nói chung và truyện ngắn nói riêng ở một địa phương bao giờ cũng trải qua nhiều thăng trầm. Thái Nguyên (Bắc Thái cũ) cũng vậy. Tôi còn nhớ vào thập kỉ 70, 80 (thế kỉ trước) tình hình sáng tác của Thái Nguyên khá nổi trội với những cây bút nổi tiếng như Xuân Cang, Vi Hồng, Nông Minh Châu, Trịnh Thanh Sơn, Hoàng Minh Tường, Nguyễn Đức Thiện, Chu Hồng Hải… Vào thời kì này, có không ít các tác giả Thái Nguyên đoạt nhiều giải thưởng truyện ngắn ở trung ương. Tuy nhiên, chỉ sau đó ít năm, khi hầu hết các nhà văn chuyển công tác về Hà Nội thì phong trào sáng tác, trong đó có truyện ngắn ở Thái Nguyên đã suy giảm rõ rệt. Cả tỉnh lúc bấy giờ chỉ còn lác đác vài tác giả. Theo quan sát của tôi thì vào khoảng 30 năm nay, truyện ngắn Thái Nguyên mới dần khởi sắc và có nhiều thành tựu với một loạt tác giả như Hà Đức Toàn, Lê Thế Thành, Trần Quang Toàn, Bùi Như Lan, Phan Thái, Nguyễn Đức Hạnh, Nguyễn Văn, Đào Nguyên Hải, Minh Hằng, Bùi Nhật Lai, Tiết Minh Hà, Hà Thị Hiền, Trần Thị Nhung, Trinh Nguyên, Nông Văn Kim (Bắc Kạn cũ), Hoàng Chiến Thắng (Bắc Kạn cũ)… Là một nhà nghiên cứu đồng thời là người viết truyện ngắn, anh có thể cho độc giả hiểu sâu thêm về nhận định này?

Nhà văn Hồ Thủy Giang

PGS - TS - Nhà văn Nguyễn Đức Hạnh: Có thể khái lược về hành trình truyện ngắn Thái Nguyên như sau: trước những năm 60 của thế kỉ 20, truyện ngắn Thái Nguyên nói riêng, truyện ngắn của các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung quả thực mới chỉ đang ở giai đoạn chuẩn bị cho sự hình thành tiếp theo, ngoại trừ “Ché Mèn đi họp” của Nông Minh Châu (Bắc Kạn). Nhưng từ những năm 60-70-80 của thế kỉ 20, với sự xuất hiện của hàng loạt cây bút xuất sắc công tác tại Khu Gang thép Thái Nguyên, sau đó lan toả ảnh hưởng đến các nhà văn Thái Nguyên như Vi Hồng, Hồ Thủy Giang... đã có một phong trào sáng tác truyện ngắn khởi sắc, nhiều thành tựu. Nhưng sau khi nhóm nhà văn thuộc Khu Gang Thép Thái Nguyên chuyển về Hà Nội hoặc các địa phương khác, sự trầm lắng đã xuất hiện. Lí do thì có nhiều, nhưng lí do quan trọng nhất là những tài năng viết truyện ngắn của Thái Nguyên hoặc chưa xuất hiện hoặc có một vài cây bút đang học hỏi để trưởng thành. Phải đến 20 năm đầu thế kỉ 21, truyện ngắn Thái Nguyên mới thực sự khởi sắc trở lại, khẳng định được thành tựu nổi trội trong các tỉnh miền núi phía Bắc. Hàng loạt cây bút trẻ xuất hiện, bước đầu khẳng định được cá tính sáng tạo của mình. Tuy nhiên, nhìn chung người viết Thái Nguyên còn ít sự bứt phá về thi pháp. Đó là kết quả ít nhất từ vài nguyên nhân sau: với gần 10 trường đại học đóng ở Thái Nguyên, với số lượng trí thức có trình độ cao thuộc hàng lớn nhất trong các tỉnh miền núi phía Bắc, những “nhân tài” viết truyện ngắn cũng đông đảo hơn; thời đại số với sự bùng nổ thông tin từ mạng xã hội; độc giả có trình độ cao trong tiếp nhận văn học cũng thúc đẩy quá trình sáng tác khởi sắc...

Tạm gọi, hai từ “cao trào” như trên trong hành trình truyện ngắn Thái Nguyên, tôi vẫn luôn tin tưởng và hy vọng vào bước phát triển sắp tới cho thể loại văn học có tính “xung kích” này.

PGS - TS - Nhà văn Nguyễn Đức Hạnh

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Một trong những ưu điểm nổi bật của truyện ngắn Thái Nguyên, theo đánh giá của một số nhà lí luận văn học là rất phong phú về đề tài, chủ đề được mở rộng, tâm lí nhân vật cũng đa chiều, được khai thác ở chiều sâu, kể cả tâm lí học hiện đại (vô thức cá thể và cộng đồng)… Xin anh đưa ra một cái nhìn tổng quan truyện ngắn ở tỉnh ta về đề tài, chủ đề, bút pháp và xa hơn nữa là thi pháp của các tác giả truyện ngắn ở Thái Nguyên. Có sự bứt phá nào không, thưa nhà lí luận?

PGS -TS - Nhà văn Nguyễn Đức Hạnh: Điểm qua hành trình truyện ngắn Thái Nguyên, có thể khẳng định rằng: Truyện ngắn Thái Nguyên có sự phát triển phong phú về đề tài, chủ đề và bút pháp nghệ thuật. Đó là những truyện ngắn mang sắc thái văn hoá dân gian Tày của Vi Hồng, là những truyện ngắn Hồ Thủy Giang giàu triết luận và đậm chất thế sự, đời tư; truyện ngắn kinh dị - huyền ảo của Nguyễn Đức Hạnh; đặc biệt, có thể nói, trong vòng 25, 30 năm trở lại đây, Thái Nguyên đã hình thành một đội ngũ tác giả khá hùng hậu, đã làm nên một khối lượng truyện ngắn vô cùng phong phú với nhiều đề tài và chủ đề: Đề tài nông nghiệp, nông thôn như nhà văn Nguyễn Quang Toàn, Trần Thị Nhung, đề tài công nghiệp như nhà văn Phan Thái, Cồ Thị Thơm, dân tộc và miền núi như nhà văn Bùi Như Lan, Hoàng Hiền, đề tài chiến tranh như nhà văn Lê Thế Thành, Đào Nguyên Hải, đề tài đời thường như nhà văn Hà Đức Toàn, Minh Hằng, Nguyễn Nhật Huy, đề tài phụ nữ như nhà văn Tiết Minh Hà, Trinh Nguyên... Sự phong phú, đa dạng về bút pháp nghệ thuật của các tác giả Thái Nguyên cũng là những thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, điểm hạn chế là sự “đậm- nhạt” không đều, có “nền” rộng mà ít “đỉnh cao”. Có lẽ vẫn cần thời gian để các cây bút hiện tại đạt tới “độ chín “ của chính mình.

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Tôi được biết, anh Nông Văn Kim là một nhà văn có nhiều năm hoạt động và sáng tác ở địa bàn Bắc Kạn (cũ), anh có thể cho độc giả hiểu thêm về hành trình và thành tựu của các cây bút truyện ngắn ở một vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hoá và cách mạng này, trong vòng 20 năm nay. Anh có nhận định gì về phong trào và chất lượng truyện ngắn ở vùng Bắc Kạn (cũ)?

Nhà văn Nông Văn Kim:  Có thể lấy dấu mốc từ cuộc thi “Thơ, văn xuôi và ca khúc về Bắc Kạn lần thứ nhất (2001- 2003). Kết quả, về truyện ngắn, có 6 truyện ngắn được đoạt giải, trong đó có 3 tác phẩm của Thái Nguyên là Hà Đức Toàn, Hồ Thủy Giang và Nguyễn Minh Sơn, 3 tác phẩm của Bắc Kạn là Nông Văn Kim, Văn Lợi và Lường Văn Thắng. Từ đấy hé lộ dần các gương mặt tác giả và tác phẩm truyện ngắn Bắc Kạn. Đến cuộc thi  “Sáng tác thơ - truyện ngắn - ca khúc Bắc Kạn lần thứ II (2006 - 2008)” thì các truyện ngắn của tác giả Bắc Kạn đã lên tới 10/12 tác phẩm đoạt giải. Trong đó nổi lên gương mặt của một số tác giả trẻ như Hoàng Chiến Thắng, Triệu Hoàng Giang, Nguyễn Thị Thào. Có thể nói, đây là “đỉnh cao” của truyện ngắn Bắc Kạn. Từ đấy đến nay, Bắc Kạn có thêm hai cuộc thi “Bắc Kạn xây dựng nông thôn mới”. Thể loại truyện ngắn vẫn có những tác phẩm đoạt giải cao, nhưng nhìn chung đã tự chững lại và đuối dần về cả số lượng lẫn chất lượng. Nhiều tác giả truyện ngắn không còn đủ kiên nhẫn theo đuổi vì sự khó khăn, gian khổ của thể loại này, trong đó, còn có cả việc chi phí in ấn, phát hành hạn hẹp.

Nhà văn Nông Văn Kim

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Thưa anh Đào Nguyên Hải. Anh từng có một số tác phẩm, trong đó có truyện ngắn đoạt giải vào những năm đầu của thập kỉ 80 (thế kỉ trước) nhưng khoảng gần 20 năm trở lại đây anh mới thực sự trở lại với văn chương. Ba tập sách đã xuất bản của anh (“Hoa tường vi”, “Apsara dưới trăng”, “Ngày xưa có chóc”) hầu hết đều viết về đề tài chiến tranh, đặc biệt là ở chiến trường K. Tuy cũng có một số truyện ngắn mở rộng sang đề tài nông thôn hoặc về đời thường nhưng vẫn luôn có những chi tiết, những ký ức liên quan tới chiến tranh và hình ảnh người lính. Anh từng là tình nguyện quân nhiều năm chiến đấu tại Campuchia nên điều đó cũng dễ hiểu. Nhưng có lẽ độc giả cũng muốn biết vì sao, có lí do gì mà anh lại trung thành với đề tài này như vậy?

Nhà văn Đào Nguyên Hải: Các tác phẩm của tôi đúng là phần nhiều viết về đề tài chiến tranh tại chiến trường K. Điều đó cũng dễ hiểu vì tôi là một người lính thuộc quân y đã nhiều năm chiến đấu tại Campuchia. Nhưng nói vì sao tôi lại trung thành với đề tài này thì cũng có lý do. Kể từ những ngày đầu tiên đặt chân sang nước bạn, tôi đã gặp trên đường hình ảnh người lính với những khuôn mặt đen sạm hốc hác, đôi môi tái nhợt vì sốt rét, hình ảnh những cáng thương binh vừa lội nước cắt rừng vừa bắn trả địch (bọn Pôn Pốt thường phục kích cố tình giết thương binh đang nằm trên võng). Khi đến đơn vị, chính thức làm nhiệm vụ, hình ảnh những thương binh nặng do chính tay tôi phẫu thuật đã đập vào tâm trí tôi một cách vô cùng mạnh mẽ và khốc liệt. Một lần, phòng phẫu thuật của tôi tiếp nhận hai thương binh bị mìn, một chiến sĩ mất cả hai chân, một chiến sĩ mất một bên chân. Cả hai đều còn rất trẻ chắc chỉ mười chín, hai mươi. Họ sẽ nghĩ gì khi tỉnh dậy thấy mình đã mất đi một phần thân thể. Trạm quân y của chúng tôi mỗi ngày phải xử lí hàng chục ca, không tránh khỏi những người hy sinh ngay trên bàn mổ. Có chiến sĩ trong túi áo vẫn còn những lá thư viết cho mẹ và người yêu… Có những người khi nhắm mắt xuôi tay chưa được biết đến một nụ hôn. Tất cả những hình ảnh ấy như khắc sâu vào tâm khảm tôi, như một món nợ không trả nổi. Với tôi, viết văn, là một cách để đồng đội, những người quả cảm hy sinh như được sống mãi cùng thời gian.

Nhà văn Đào Nguyên Hải

Nhà văn Hồ Thủy Giang: So với nhiều người viết Thái Nguyên, anh là người cầm bút chưa quá lâu nhưng lại có nhiều giải thưởng. Hai lần giải ở địa phương, ba lần đoạt giải ở trung ương (Tạp chí Văn nghệ Quân đội và 2 lần của Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam), trong đó, có tập truyện ngắn “Hoa tường vi” là tập truyện đầu tay đoạt giải năm 2017. Một tác giả địa phương mà có được số lượng giải thưởng như vậy quả là đáng biểu dương. Có được những thành tích như vậy, theo anh tự đánh giá, là do tài năng, sự rèn luyện, lòng say mê văn chương, tình yêu cuộc sống hay còn do điều gì khác?

Chi hội Văn xuôi ra mắt tập truyện Sống thật lúc nửa đêm.

Nhà văn Đào Nguyên Hải: Tôi là một người cầm bút ở địa phương và cũng cầm bút chưa lâu. Việc được trao các giải của địa phương và trung ương, thú thực tôi rất vui, nhưng không phải cái vui của người đạt được thành tích mà là vui vì những hình ảnh đồng đội của tôi đã hy sinh, đã cống hiến máu xương cho Tổ quốc nay được nhiều người biết đến và đón nhận. Đúng như anh nói, các nhà văn đạt tới đỉnh cao nào đó thì họ không thể thiếu tài năng, sự rèn luyện, lòng say mê văn chương, tình yêu cuộc sống, nhưng với tôi thì chưa bao giờ dám nghĩ mình có tài năng, mà đó chỉ là sự đền đáp một phần công lao của đồng đội trong những tháng ngày gian khổ trên đất Campuchia.

 

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Xin được quay trở lại với PGS - TS Nguyễn Đức Hạnh. Bàn về thi pháp quả là một câu chuyện dài và không kém phần phức tạp. Theo khảo sát của tôi, thì trong vòng mươi, mười lăm năm trở lại đây, một số tác giả Thái Nguyên đã lưu ý đến sự đổi mới về khuynh hướng sáng tác (hiện đại và hậu hiện đại), có những người đã ít nhiều thành công, chiếm được cảm tình bạn đọc và trong giới. Tuy tất cả chỉ là bước đầu, nhưng có điều mừng nhất là không ai sa vào sự lai căng, sống sượng, cắt rời truyền thống như từng xuất hiện đây đó trên địa bàn cả nước. Anh đồng tình hay không đồng tình với nhận định trên của tôi? Anh có thể phân tích sâu rộng thêm về vấn đề này.

PGS - TS - Nhà văn Nguyễn Đức Hạnh: Về thi pháp truyện ngắn Thái Nguyên mấy chục năm qua, một vấn đề rất lớn chỉ có thể trả lời bằng một chuyên luận dày dặn. Nhưng có thể nói một cách khái lược nhất là: truyện ngắn Thái Nguyên đa số vẫn tuân thủ thi pháp của Chủ nghĩa hiện thực XHCN. Do đó đọc phần lớn truyện ngắn Thái Nguyên sẽ có cảm giác “quen” và “cũ”. Chỉ có một số rất ít cây bút truyện ngắn tiếp cận với cách viết mới, ít nhiều chịu ảnh hưởng từ Chủ nghĩa Hiện đại và Hậu Hiện đại. Chưa dám bàn đến chủ nghĩa Hậu nhân loại. Điều ấy còn quá xa vời.

Nhưng có điều đáng mừng, một số cây bút  như Nguyễn Đức Hạnh, Nguyễn Nhật Huy, một số truyện ngắn của Hồ Thủy Giang và của một, vài cây bút trẻ, dù cách tân nhưng vẫn gắn bó với “cái gốc” truyền thống, không rơi vào lai căng, sống sượng, tắc tị...

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Thưa anh Nông Văn Kim! Tôi nghĩ, một đề tài đặc biệt được các tác giả Bắc Kạn quan tâm, chính là đề tài dân tộc và miền núi. Ông có thể điểm và giới thiệu vài tác giả và tác phẩm đã được độc giả quan tâm hoặc đoạt giải (không ngoại trừ các tác phẩm của chính mình).

Nhà văn Nông Văn Kim: Có thể nói tác giả Dương Quốc Hải là người khai bút đầu tiên cho truyện ngắn Bắc Kạn, trong đó có truyện ngắn như: “Mắt ngọc” và “Con thú”. Với nhiều lý do, ông đã chuyển vùng công tác, nhưng tác phẩm của ông mang đậm dấu ấn dân tộc và miền núi. Có thể nói, các truyện ngắn của Dương Quốc Hải trong thời gian này đã như một nguồn động viên và truyền cảm cho những người viết theo đuổi đề tài này.

Hoàng Chiến Thắng là tác giả của nhiều truyện ngắn đoạt giải thưởng và để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc qua các tập truyện như “Ngằn ngặt khóc cười”, “Sương mù Lũng Noong” cùng truyện dài “Mùa sa nhân”. Trong đó, hai tác phẩm “Mùa sa nhân” và “Sương mù Lũng Noong” đều được trao Giải C của Hội Văn học Nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam. Đặc biệt, truyện ngắn “Sương mù Lũng Noong” đã được chuyển thể thành phim vào năm 2010 bởi Hãng phim truyện Việt Nam. Tác phẩm “Mùa sa nhân” được nhiều độc giả đánh giá cao bởi đã tái hiện chân thực một phần đời sống miền núi với những ký ức tuổi thơ giàu cảm xúc và đầy ý nghĩa.

Triệu Hoàng Giang với tập truyện ngắn “Chim đón dâu” dành cho thiếu nhi được đưa vào dự án đầu tư xuất bản, tập truyện ngắn “Nghiệp rừng” được người đọc đón nhận bởi sự đậm đặc đề tài, chủ đề nông thôn miền núi, với giọng văn gần gũi… là tác giả được người đọc đánh giá sẽ tiếp tục tiến xa hơn.

Tác giả Nông Văn Kim, được người đọc biết đến với nhiều truyện ngắn viết về dân tộc miền núi đoạt giải cao của tỉnh, tập truyện ngắn “Người thợ săn cuối cùng” (Giải C) và Tập truyện ngắn “Lửa Hoang” (Giải Khuyến khích) Hội VHNT các DTTS Việt Nam. Gần đây nhất tiểu thuyết “Những người con của núi” (là tiểu  thuyết  thứ 2 của làng văn Bắc Kạn cũ (sau Tiểu thuyết “Muối lên rừng” của nhà văn Nông Minh Châu xuất bản năm 1963) đoạt giải B của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về chủ đề  “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đợt II, giai đoạn 2021-2025.

Ngoài những tác giả và tác phẩm kể trên còn nhiều tác giả khác cũng có một số tác phẩm chất lượng khá, nhưng chưa định hình rõ giọng văn, sự góp mặt của họ còn nhiều khoảng đứt đoạn. Có một điều đáng ngẫm ngợi: Các tác phẩm truyện ngắn của Bắc Kạn (cũ) chưa được nằm trong không gian phê bình văn học của khu vực và cả nước nên khó có hy vọng được truyền bá rộng rãi.

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Tôi đã được đọc nhiều truyện ngắn của Nông Văn Kim trên các tạp chí văn học nghệ thuật ở địa phương, đặc biệt là ở tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn, nhận thấy rất rõ tác giả có một vốn sống miền núi rất phong phú và cách viết khá hấp dẫn. Tôi được biết, trước khi cầm bút, ông vốn ngoại đạo (là người quản lí ở một nông trường chăn nuôi ở vùng cao). Ông có thể cho độc giả hiểu thêm về chặng đường đi đến với văn chương của mình, đó là một con đường dễ dàng, đơn giản hay đầy khó khăn, gian nan, đòi hỏi một sự kiên trì bền lâu?

Nhà văn Nông Văn Kim: Có thể là tôi gặp may với mấy cơ hội sau: Tôi sinh ra vào thời kỳ nhiều biến động nhất của lịch sử dân tộc. Năm 1947, Pháp nhảy dù, chiếm Bắc Kạn, cả nhà tôi tản cư về Hương Nê quê mẹ, là cuộc sống trong cơ (lán trong rừng), được tiếp xúc với bộ đội, bắt đầu nghe, nói tiếng Kinh. Bắc Kạn giải phóng, gia đình tôi hồi cư, cảm xúc vỡ òa như trong “Dọn về làng” của nhà thơ Nông Quốc Chấn. Cảnh địch ném bom xuống làng, nhà cháy, người chết. Đêm đêm đèn đuốc sáng, dân công sửa đường, lớp bình dân học vụ, học viên với mọi lứa tuổi… Tất cả được tích cóp vào tâm trở thành ký ức không bao giờ phai. Năm 1961-1964 tôi gặp được thầy Hoàng Thể dạy văn. Với tài năng và tâm huyết của mình, thầy đã truyền cảm hứng cho tôi trong đọc và viết. Tôi tiếp thu giọng văn kể chuyện trong truyện cổ Trung Hoa, trong “Thép đã tôi thế đấy”… đến nay vẫn ghi nhớ trong lòng.

 Rồi sau khi tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tôi chuyển qua khá nhiều giai đoạn công tác, hầu như mọi việc đều đòi hỏi cân não: Củng cố HTX trong giai đoạn cơ chế tập thể đã ở giai đoạn thoái trào, giằng xé giữa một bên là sự thật, một bên là cố giữ cơ chế hiện hành dẫu đã lỗi thời. Giai đoạn 1982-1998 được phân công làm Giám đốc Nông trường Trùng Khánh là giai đoạn đối với tôi là cam go nhất. Nông trường giải thể năm 1998. Năm 1999 tôi chuyển về Tỉnh ủy Bắc Kạn, biên chế trong Phòng Tổng hợp. Đấy là giai đoạn bước ngoặt trong hành trình chuyển vốn sống thành tác phẩm văn học của tôi. Trên bước đường sáng tác, cái khuôn khổ “con người hành chính” tuy ít nhiều có những tác động hạn chế đến “con người văn chương” nhưng dẫu sao, tôi đã có sự cố gắng vươn lên và cũng đã có vài tác phẩm được bạn đọc đón nhận.

 

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Xin được tiếp tục câu chuyện với anh Đào Nguyên Hải. Nhiều năm theo dõi, tôi nhận thấy hầu hết các truyện ngắn trong thời kì đầu sáng tác, anh đều viết với dung lượng rất ngắn, kể cả truyện “Vật kỷ niệm bình thường”, một truyện ngắn đoạt giải ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, cũng chỉ 2.000 chữ. Hầu hết các truyện trong tập “Hoa tường vi”, anh cũng thường sử dụng thể loại truyện cực ngắn (trên dưới 1.500 chữ). Đó là thể loại truyện anh hứng thú, theo đuổi hay vì mới cầm bút nên có sự dè dặt?

Nhà văn Đào Nguyên Hải: Đúng như nhận xét của anh, những truyện ngắn của tôi thường rất ngắn, chủ yếu là 1.500 đến 2.000 chữ. Có điều ấy có lẽ bởi nhiều nguyên nhân, có thể do tài năng chưa đủ tầm để viết dài, do sự dè dặt chăng… nhưng tôi nghĩ có một nguyên nhân quan trọng nhất vì tôi là người lính có gần chín năm trong Quân đội đã ảnh hưởng nhiều đến tác phong sống và làm việc, đặc biệt ảnh hưởng đến cách viết của tôi. Người lính chúng tôi thường ít nói và thường nói ngắn gọn, dễ hiểu ví như khi nhận nhiệm vụ chỉ một câu “rõ” là đủ . Nhưng trong câu “rõ” ấy dường như đã chứa đựng sự quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, chứa đựng cả sự hy sinh, vất vả. Hay những lúc nhận địa điểm tập kết, đơn vị luôn tìm những con đường ngắn nhất, ít nguy hiểm nhất nhưng hiệu quả nhất để hành quân. Những điều ấy có lẽ ảnh hưởng nhiều đến cách viết của tôi.

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Còn bây giờ là một câu hỏi dành riêng cho nhà văn Nguyễn Đức Hạnh. Khoảng mười năm trở lại đây, cái tên Nguyễn Đức Hạnh có vẻ như “khuynh đảo” văn đàn Thái Nguyên bởi các truyện ngắn khác biệt so với sự bình lặng vốn có của truyện ngắn trong tỉnh. Đó là các truyện ngắn mang màu sắc huyền ảo, kinh dị (có người gọi luôn là “truyện ma”). Thực ra, cái huyền ảo, cái kinh dị đã xuất hiện rất lâu ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Ở ta là các truyện dân gian, thời kì trung đại hay vào những thập kỉ đầu của thế kỉ 20 là các truyện ngắn của Thế Lữ, Đái Đức Tuấn… Ở Trung Quốc là Liêu trai chí dị, ở Mĩ là Edgan Allan Poe… Rồi sự xuất hiện của Chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo ở Mĩ Latinh… Mỗi thời kì, mỗi vùng đất đều có những đặc trưng và sự khác biệt. Đọc các truyện ngắn của anh trên báo chí và đặc biệt ở tập “Tiếng chuông chùa Tử Đằng” của anh, tôi nghĩ, hình như tác phẩm có sự “tích hợp” nhiều yếu tố. Có yếu tố huyền ảo dân gian, phảng phất Liêu trai, có sự pha trộn của kinh dị phương Tây và hiện thực huyền ảo Mĩ Latinh. Nhưng điều đáng nói nhất là anh đã tìm ra cách “Việt hoá” trong cách viết. Hình như chính từ sự kết hợp hài hoà và hiệu quả ấy mà các truyện ngắn của anh trở nên hấp dẫn và phù hợp với độc giả trong nước. Anh nghĩ sao về nhận định này?

 

PGS -TS - Nhà văn Nguyễn Đức Hạnh: Về truyện ngắn Huyền ảo - kinh dị của tôi (Nguyễn Đức Hạnh), có thể nói ngắn gọn rằng: Tôi luôn kính trọng các bậc đàn anh đi trước. Thành tựu truyện ngắn Thái Nguyên trong quá khứ là đáng tự hào. Nhưng dù là “đàn em” tôi thấy không thể tiếp tục viết như các thế hệ “đàn anh” đã viết. Dù lặp lại cách viết của thiên tài thì cũng chỉ là cái bóng mà thôi. Có học tập nhưng để từ đó mà sáng tạo, dù có thành công hay không chưa biết?! Nhưng điều quan trọng nhất là phải khác trước. Vì thế tôi tìm đến yếu tố Huyền ảo - Kinh dị. Yếu tố này trong truyện ngắn của tôi được tạo lập từ các nguồn sau: yếu tố Huyền ảo - Kinh dị trong văn học dân gian và văn học trung đại Việt Nam; Chủ nghĩa Hiện thực Huyền ảo của Châu Mĩ Latinh; từ những ám ảnh tuổi thơ trong hoàn cảnh và không gian sống của riêng tôi. Khát khao cách tân và vận dụng khát khao ấy vào sáng tác là một chuyện, nhưng thành công hay không lại là chuyện khác. Với tôi, tất cả mới chỉ là bước đi ban đầu, thành công còn rất xa vời.

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Xin được hỏi anh Nông Văn Kim một câu hỏi có tính “bếp núc” một chút. Tôi biết, ông có viết tiểu thuyết, bút kí… nhưng thành tựu quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông chính là truyện ngắn. Chắc chắn, trong quá trình sáng tác thể tài này, ông có nhiều kỉ niệm hoặc những kí ức khó quên. Ông có thể tâm sự đôi điều về việc này với bạn đọc. Ví như việc cách đưa các sự kiện thật, câu chuyện thật, con người thật mà mình từng trải nghiệm (vốn sống) vào tác phẩm…

 Nhà văn Nông Văn Kim: Về việc đưa các sự kiện thật, câu chuyện thật, con người thật mà mình từng trải nghiệm (vốn sống) vào tác phẩm như anh đặt vấn đề, tôi nghĩ, vốn sống là vật vô hình vì nó là những kí ức. Người viết, biến cái vô hình thành cái hữu hình. Qua tác phẩm sẽ hiện ra lồ lộ những hình hài, màu sắc, âm thanh… khiến người đọc như được trực tiếp nhìn, nghe thấy, khiến họ bật ra biểu cảm hỷ, nộ, ái, ố. Qua lăng kính của người viết sẽ tạo ra cái hồn của tác phẩm, sẽ có hai lối rẽ: hoặc hờn căm, thù hận, nhưng trong bao dung, hoặc yêu thương và tha thứ… để nuôi nguồn nhân ái. Thực ra, những câu chuyện thật, sự kiện thật ở trong cuộc sống thường thô ráp. Khi đi vào văn chương, nhà văn phải thổi vào đó những tình cảm đẹp, những triết lí sâu sắc. Vì vậy, tôi cũng như nhiều nhà văn khác, phải làm sao tạo ra một “thế giới thứ 2” trong một giá trị thẩm mỹ nhất định để có thể đi vào lòng bạn đọc.

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Xin đặt một câu hỏi cuối với nhà văn Đào Nguyên Hải. Trong các truyện ngắn đã đăng báo và xuất bản, anh ưng ý nhất những truyện ngắn nào? Anh có thể cho biết lí do vì sao? Anh có dự định sáng tác gì trong thời gian tới?

 

Nhà văn Đào Nguyên Hải: Trong các truyện ngắn tôi đã đăng báo và xuất bản, nói ưng ý nhất thì cũng không hẳn, nhưng những truyện đã để lại ấn tượng sâu sắc trong đời cầm bút là truyện “Cây cơm sấy” và truyện “Vết thương”. Truyện “Cây cơm sấy” là từ một câu chuyện có thật xảy ra ở đại đôi trinh sát. Một tổ trinh sát gồm 9 chiến sĩ cắt rừng đi nắm tình hình địch chuẩn bị cho cuộc truy quét. Lương thực mang theo là những gói lương khô và một túi cơm sấy. Buổi sáng hôm ấy giữa cánh rừng già họ chia thành ba nhóm. Trước lúc chia tay họ mang chín túi cơm sấy chôn xuống giữa dòng suối cạn để cơm hút hơi ẩm còn sót lại trong đất cơm hút ẩm sẽ mềm, dễ nhai hơn, tiết kiệm được phần nước ít ỏi trong bi đông. Khi lên đường, họ vui vẻ nhìn những túi cơm vùi ngay ngắn thẳng hàng dưới lòng suối, rồi đùa nhau, ví những túi cơm như chín anh em đang xếp hàng xuất kích. Chiều hôm ấy một nhóm đã vấp phải một trái cối 82 gài của bọn Pôn pốt, một chiến sĩ đã hy sinh. Khi trở về, mọi người nhìn chín túi cơm xếp ngay ngắn dưới lòng suối. Nếu lấy cơm lên ăn lúc này thì ở lòng suối sẽ còn chơ vơ một túi cơm của người chiến sĩ đã hy sinh. Họ nghẹn ngào không nỡ để đồng đội lại một mình. Vì vậy, chín túi cơm sấy vẫn nằm nguyên đội hình dưới lòng suối. Vừa đói vừa khát, lại bị lạc rừng, tổ trinh sát vẫn lết đi từng bước, mang theo người chiến sĩ đã hy sinh. Khi đơn vị tìm thấy họ thì tám chiến sĩ chỉ còn thoi thóp, bên cạnh là thi thể người chiến sĩ hy sinh. Câu chuyện ấy mỗi lần nghĩ lại, tôi lại thấy nghẹn ngào khôn nguôi, và đã viết lại truyện ngắn này, gần như không có hư cấu. Còn về truyện “Vết thương”. Lần ấy vận tải đưa về quân y một chiến sĩ bị mìn cắt đứt hai chân. Khi kiểm tra vết thương, điều làm tôi kinh hoàng và đau đớn là toàn bộ bộ phận sinh dục của thương binh đã bị mìn thổi bay. Tiên lượng rất xấu. Tôi bảo y tá tìm trong túi áo của thương binh xem có gì không, để nếu xảy ra hy sinh còn bàn giao lại cho đơn vị. Cậu y tá đã tìm thấy một lá thư loang vệt máu. Đó là lá thư của người vợ mới cưới trong đợt người chiến sĩ tranh thủ về phép. Trong thư cô ấy thông báo vẫn chưa có thai, mong anh lúc nào tranh thủ về để có một đứa con. Tất cả phòng mổ nghẹn lại. Lần ấy, người chiến sĩ ấy đã thần kỳ thoát khỏi tay thần chết nhưng tôi hiểu vết thương của anh sẽ chảy máu suốt cuộc đời. Câu chuyện thật ấy đã ám ảnh, để rồi tôi hoàn thành truyện ngắn “Vết thương” như một trách nhiệm và nghĩa vụ của một người chiến sĩ đối với đồng đội.

Còn nói về dự định sáng tác trong thời gian tới, chắc là tôi cũng vẫn viết, nhưng viết về điều gì thì quả thật còn tùy duyên.

Nhà văn Hồ Thủy Giang: Xin cảm ơn sự quan tâm đến đời sống văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng cùng các câu trả lời phỏng vấn rất sâu sắc và lí thú của các nhà văn Nguyễn Đức Hạnh, Nông Văn Kim và Đào Nguyên Hải.