Tháng Sáu ập đến, vắt kiệt những giọt mồ hôi bằng cái nắng chang chang như đổ lửa. Ở cái tuổi này, khi phần lớn thời gian trong ngày trôi qua giữa những căn phòng kín, bó mình trong tiếng điều hòa chạy ro ro và những lịch trình nối tiếp nhau, tôi bỗng nhớ quay quắt những mùa hè cũ. Cái mùa hè không bọc trong lớp kính cách âm, không có điện thoại thông minh hay những chuyến du lịch xa hoa mà lăn lóc ngoài hiên nhà, ngoài bờ ruộng, giữa những trưa nắng vỡ đầu. Chỉ có nắng, có gió, có tiếng cười trong veo con trẻ và một mùi vị lấm lem, mộc mạc mà ấm áp đến cháy lòng.
Mùa hè ngày ấy mang mùi ngai ngái của bùn đất hòa với hơi nóng bốc lên từ khoảng sân gạch, là những vạt thóc phơi vàng ruộm cả một góc trời. Những ngày vào vụ, trưa hè nắng ong ong, sân nhà lúc nào cũng đầy ắp thóc. Chị em chúng tôi được giao nhiệm vụ canh gà, canh vịt, thỉnh thoảng cầm chiếc cào đảo đều cho hạt thóc khô nhanh hơn.
![]() |
| Minh họa Dương Văn Chung |
Thế nhưng mùa hè cũng là mùa của những cơn mưa bất chợt. Đang nắng đến nhức mắt, bỗng mây đen từ đâu kéo về kín một góc trời. Gió nổi lên ào ào, cuốn bụi lá chạy dọc sân nhà. Cả nhà đang nghỉ trưa cũng giật mình bật dậy. Người cầm cào, người cầm chổi, người kéo bạt, tiếng gọi nhau í ới hòa cùng tiếng chân chạy hối hả khắp sân. Có những cơn mưa còn đến nhanh hơn thế, ào xuống trắng trời như trút nước, chẳng cho ai kịp trở tay. Những hạt thóc vàng ruộm vừa phơi nắng phút chốc đã ướt sũng. Khi ấy, mẹ lại vội vàng lôi chiếc bao tải cám cũ kỹ ở góc bếp, chẹn thật chặt miệng cống thoát nước để giữ những hạt thóc được đổi bằng bao ngày dãi nắng dầm sương khỏi bị nước cuốn trôi. Mưa xối xuống mái ngói, xuống sân gạch, xuống những khuôn mặt lấm tấm mồ hôi. Hít một hơi thật sâu, thấy sực nức mùi lúa ướt, mùi đất ải sau bao ngày khô khát đang hả hê uống nước. Đó là thứ hương vị của nhọc nhằn, của lam lũ, nhưng cũng là mùi của sự no ấm, đủ đầy mà đến bây giờ tôi vẫn không thể nào quên.
Lại có những ngày, khi người lớn vừa chợp mắt sau buổi làm đồng mệt nhọc, lũ trẻ chúng tôi đã rón rén chuồn khỏi nhà. Chân đất chạy lon ton trên con đường làng bỏng rát, đứa nào cũng hăm hở đi tìm cào cào, châu chấu để mang về cho lũ chim sẻ nuôi trong chiếc lồng tre cũ. Trên những vòm cây, ve vẫn râm ran gọi hè đến khản cả giọng. Ngoài đồng, lúa non xanh mướt trải dài đến tận chân trời. Chúng tôi men theo những ruộng đầy cỏ, lật từng mảng bùn mềm để tìm cua đồng đang ẩn mình dưới làn nước mát. Có đứa gan dạ thò cả cánh tay vào những chiếc hang sâu ven bờ, hí hửng tưởng sắp bắt được một chú cua to, để rồi giật bắn người khi chạm phải thứ gì đó trơn tuột, nhơn nhớt không rõ là cá, là lươn hay rắn nước. Tiếng la oai oái của một đứa lập tức kéo theo trận cười nghiêng ngả của cả bọn. Bùn đất bám đầy chân tay, quần áo lấm lem, đen nhẻm vì nắng, vậy mà đứa nào cũng vui như vừa nhặt được một kho báu giữa đồng quê mùa hạ.
Trong miền ký ức tuổi thơ xa ngái, tôi luôn nhớ về cây bàng già đứng lặng lẽ trước ngõ nhà. Cây bàng do bố tôi trồng từ khi nào tôi cũng không còn nhớ rõ, chỉ biết rằng nó đã ở đó từ rất lâu, lâu hơn cả tuổi của tôi. Năm tháng đi qua, thân cây ngày một to hơn, vỏ sần sùi hơn, còn tán lá thì cứ rộng dần ra như cánh tay của một người cha âm thầm che chở cho đàn con nhỏ.
Mỗi độ hè về, tán bàng xòe rộng, phủ bóng mát cả một quãng đường làng. Cây bàng già lặng lẽ đứng đó, chứng kiến biết bao mùa hè tuổi thơ của chúng tôi đi qua. Dưới bóng cây ấy là những ván ô ăn quan kéo dài đến quên cả giờ cơm, là những sợi dây nhảy vun vút trong tiếng cười giòn tan, là những buổi chiều tụm năm tụm ba chơi chuyền, đánh khăng rồi ngồi kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện trên đời. Giữa cái nắng tháng Sáu chang chang như muốn nung chảy mặt sân gạch, chỉ cần ngồi dưới gốc bàng là đã thấy mát rượi, nghe gió xào xạc như một khúc hát mùa hè thân quen.
Rồi đến mùa bàng chín. Từ ngày những chùm quả bắt đầu ngả sang màu vàng, lũ trẻ chúng tôi đã thấp thỏm ngóng chờ. Sáng nào ngủ dậy cũng chạy ù ra sân xem đêm qua có thêm quả nào rụng xuống gốc hay không. Quả bàng chín chẳng ngọt như xoài, chẳng thơm như ổi, phần cùi chỉ mỏng tang, chua chua, chát chát, nhưng với chúng tôi khi ấy lại là món quà quý giá của mùa hè. Nhặt quả lên, phủi sạch lớp bụi đất rồi chuyền tay nhau cắn từng miếng nhỏ, nhẩn nha thưởng thức như sợ niềm vui chóng hết.
Ăn hết phần thịt quả, chẳng đứa nào nỡ vứt hạt đi. Cả bọn lại hí húi gom từng hạt bàng, tìm viên đá vừa tay rồi ngồi đập thật khéo cho lớp vỏ cứng nứt ra. Từ khe nứt nhỏ xíu ấy, chúng tôi lấy que tre khều phần nhân trắng ngà bên trong. Cái nhân bàng bé tẹo, chẳng đáng là bao, vậy mà bùi bùi, thơm thơm, ngon đến lạ. Đứa nào khều được nguyên vẹn thì sung sướng ra mặt.
Làm sao quên được thứ âm thanh đầy cám dỗ nhất của tuổi thơ. Đó là tiếng còi bóp tay "toe toe" quen thuộc của chú bán kem rong hay bác bán kẹo kéo. Âm thanh ấy giống như một tín hiệu bí mật, chỉ cần vọng lại từ đầu ngõ là cả xóm trẻ con đã nhốn nháo, ùa ra như bầy ong vỡ tổ. Trong ký ức tôi vẫn còn in đậm hình ảnh chiếc xe đạp Thống Nhất tróc sơn kêu cọc cạch, đằng sau đèo chiếc thùng xốp cũ kỹ được chằng buộc cẩn thận bằng mấy sợi dây cao su. Chú bán kem mồ hôi nhễ nhại, làn da sạm đen vì nắng gắt, vội vã đạp phanh, chống chân xe xuống lề đường đất. Giây phút chiếc nắp thùng xốp được hé mở, một làn hơi trắng xóa, lạnh toát phả ra, làm mát rượi những khuôn mặt lấm lem đang xúm xít vây quanh, háo hức dán mắt vào chiếc thùng xốp.
Que kem mút ngày ấy đơn sơ lắm, chẳng có bao bì nhãn mác gì, chỉ là nước đá pha chút đường, thêm vài giọt phẩm màu xanh đỏ rồi cắm trên một chiếc que tre vót vội. Cắn một miếng là lạnh buốt tận chân răng. Có khi cả đám chạy ùa ra nhưng chỉ mua được một que, vậy là chuyền tay nhau, mỗi đứa cắn một miếng nhỏ mà vẫn thấy ngon lành. Thứ vị ngọt giản đơn ấy chẳng hiểu sao đến tận bây giờ vẫn không loại kem đắt tiền nào có thể thay thế. Những giọt nước màu tan ra, chảy dọc theo những ngón tay đen nhẻm vì nắng, hòa vào tiếng cười giòn tan của lũ trẻ quê nghèo.
Chúng tôi ngày ấy làm gì có sẵn tiền trong túi. Muốn ăn một que kem hay một mẩu kẹo kéo cũng phải dành dụm theo cách riêng của mình. Đứa thì đi nhặt giấy vụn, gom đồng nát, đứa lân la khắp xóm tìm vài mẩu sắt han gỉ bán lấy tiền. Có những bận góp mãi vẫn chẳng đủ, mấy cái đầu trẻ con lại nghĩ ra đủ thứ "sáng kiến". Chiếc dép nhựa đã mòn vẹt vì nắng mưa bỗng được cố tình lê thật mạnh trên mặt đường, hoặc cố xỏ cho quai dép đứt hẳn để có cớ mang đi đổi lấy một mẩu kẹo kéo dính răng. Ngây ngô là thế mà sung sướng cũng là thế. Mẩu kẹo nhỏ xíu được chia nhau từng chút một đã trở thành thứ quà xa xỉ nhất trong ký ức tuổi thơ.
Mùa hè ở quê tôi cứ thế chậm rãi trôi qua. Có tiếng võng kẽo kẹt dưới hiên nhà những trưa oi ả. Có tiếng quạt nan phe phẩy trên tay mẹ. Có những chiều chăn trâu về muộn, nghe tiếng mẹ đứng trước cổng gọi vọng theo con đường làng đang ngả màu hoàng hôn. Có những đêm mất điện, cả nhà trải chiếu ngoài sân, nằm đếm sao trời và nghe tiếng dế gáy râm ran trong bụi cỏ.
Rồi năm tháng lặng lẽ trôi đi. Những đứa trẻ chân đất ngày nào lớn lên, rời khỏi làng quê, mang theo trong hành trang biết bao ký ức của những mùa hè cũ. Bây giờ trẻ con có đủ đầy hơn. Những que kem đủ màu sắc nằm trong tủ lạnh siêu thị, những món đồ chơi mới xuất hiện mỗi ngày. Chiếc dép đứt chẳng còn ai nâng niu vá lại. Những cơn mưa bất chợt cũng không còn khiến người ta cuống quýt chạy đi gom thóc ngoài sân. Chỉ có ký ức là vẫn ở nguyên nơi ấy.
Để rồi giữa những ngày bộn bề của cuộc sống, chỉ cần bắt gặp mùi rơm mới ngoài đồng, nghe một tiếng ve đầu mùa hay nhìn thấy vài quả bàng chín vàng dưới gốc cây ven đường, lòng tôi lại bất chợt chùng xuống. Trong khoảnh khắc ấy, tôi như thấy mình của ngày xưa đang chân đất chạy dưới nắng, thấy lũ bạn cười vang dưới tán bàng già, thấy mẹ đứng nơi đầu ngõ đợi con về giữa một chiều hè xa lắc.
Tôi thèm được bé lại, thèm xỏ chân vào đôi dép nhựa chằng chịt vết vá, chạy ùa ra đầu ngõ theo tiếng còi kem "toe toe" quen thuộc, rồi vô tư đi hết một mùa hè dài trong veo như ngày ấy!








Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin