Làng Hậu Chánh cô quạnh giữa một thung lũng ở phía Tây. Để vào được làng, người ta phải băng qua con đường duy nhất chừng ba chục cây số từ đường cái. Ngày nắng, con đường ám đầy những lớp bụi đỏ. Ngày mưa, nó lầy lội, loang lổ những ổ gà, ổ vịt, thách thức mọi nỗ lực xâm nhập vào thung lũng. Trước đây, vùng này là chiến trường khốc liệt, chứng kiến sự giằng co của quân đội hai phía. Chiến tranh qua đi, để lại một bãi chiến trường đổ nát, cây cối um tùm, rậm rạp trên nền đất bazan khuất lấp bom mìn sót lại. Sau năm 1975, nhiều người dân theo diện kinh tế mới đến đây, góp thêm với dân địa phương, khai hoang phục hóa, lấy đất làm rẫy, quây quần từ đó mà nên xóm, nên làng.
![]() |
Trong số đó, có ông Hợi nhà ở cuối làng. Năm 1986, ông Hợi đưa vợ và hai đứa con trai từ Quảng Bình đến làng Hậu Chánh định cư. Nhà ông có một rẫy cà phê mấy chục hec ta, nhờ chịu thương chịu khó nên cũng ăn ra làm được. Cuộc sống ngỡ sẽ bình lặng trôi cho đến một ngày, cậu trai cả cùng một số người rủ nhau khai hoang gần vùng giao tranh ác liệt trước đây. Nhát cuốc oan nghiệt chạm vào trái bom sót lại đã cướp đi sinh mạng của chàng trai trẻ. Cú sốc quá lớn khiến vợ ông suy sụp rồi qua đời sau đó. Hai nỗi đau liên tiếp ập đến quật ngã người đàn ông già hốc hác. Ban đầu là những cơn buốt óc khiến ông hú hét mỗi đêm, rồi một ngày nắng oi ả, ông Hợi vớ lấy lá cờ trước cổng mà chạy khắp làng hô lớn:
“Xung phong! Xung phong!”
Sau cái ngày vác cờ chạy khắp làng ấy, ông Hợi hóa điên. Gần hai mươi năm trôi qua. Cái tên ông Hợi điên và cảnh ông vác cờ chạy khắp làng đã trở nên quen thuộc với mỗi thế hệ người dân làng Hậu Chánh. Đặc biệt là đám trẻ con.
“Ông Hợi điên!”
“Ông Hợi điên vác cờ!”
Lũ trẻ vây quanh ông, trêu chọc. Ông Hợi cười nham nhở, nhe hàm răng vàng khè, cái trồi cái trụt.
“Bọn ranh! Cút mau!”
Tiếng người con trai vang lên. Những hòn đất bay đến tới tấp, vỡ ra, nát vụn dưới chân. Lũ trẻ túa ra như ong vỡ tổ. Ông Hợi lại đuổi theo tụi nó: “Xung phong! Xung phong!”
Người con út cũng lại tất tả chạy theo. Cứ như vậy, chiều nào, người trong làng cũng chứng kiến màn rượt đuổi như thế. Ban đầu người ta còn hiếu kỳ, nhưng lâu rồi cũng thành quen. Thương ông bệnh tật, ai có gì cũng đem qua cho ông. Khi thì củ khoai, củ sắn, khi bát cháo, khi nắm xôi. Người con út thương cha nên cũng ở vậy, không thiết tha chuyện vợ con. Mà dẫu có khát khao tìm người bầu bạn, ai chịu lấy anh khi trong nhà có một người điên phải chăm sóc.
Cuộc sống vẫn cứ thế. Buồn bã và trầm lặng bên căn nhà ọp ẹp giữa cái thung lũng xa xôi. Cho đến một ngày, từ con đường độc đạo xuyên rừng, một chiếc xe U-oát đang bì bõm vượt qua những ổ gà lởm chởm…
“Ông Hợi điên bị tông xe mọi người ơi!”
***
“Ầm!”
Chiếc xe tăng M41 khựng lại khi quả tên lửa B72 phát nổ, hất tung mấy tên lính Mỹ gần đó lên trời.
“Chết mẹ! Bị phục kích rồi!”
Tiếng ai đó hét lên. Khản đặc giữa những tiếng nổ chói tai và những tiếng đạn xé gió. Từ trong chiến hào mới dựng, những người lính Giải phóng được lệnh nổ súng. Những loạt AK bắn ra tới tấp, chia cắt đội hình của quân Mỹ và quân Việt Nam Cộng hòa. Những tên lính đi đầu ngã rạp xuống như những cây chuối bị người ta chặt ngang thân với cây rựa sắc.
Lê Trung Mẫn đang hết sức tập trung theo dõi diễn biến trận đánh. Đại đội của anh được giao nhiệm vụ thu hút hỏa lực để cánh quân chủ lực vòng ra phía sau, tiêu diệt một căn cứ quân sự trọng yếu của Mỹ - Ngụy ở phía Tây sông Pôkô, vùng Bắc Tây Nguyên. Với ưu thế bất ngờ, đại đội của Mẫn đã khiến cho quân địch choáng váng. Hai chiếc xe tăng bốc cháy dữ dội. Địch vội vã dạt ra, cố gắng chống đỡ. Nạp mình sau chiếc xe tăng bị bắn, viên chỉ huy quân Mỹ vội vã điện về căn cứ, thông báo vị trí tọa độ.
“Kill all them!”- Giết sạch bọn chúng!
Hắn giận dữ gào lên. Từ dưới chân ngọn đồi, các khẩu pháo của Mỹ bắt đầu khai hỏa theo tọa độ được cung cấp. Chúng xới tung cả chiến hào, xé toạc mọi thứ từ đất đá, cây cối cho đến con người. Những quả cầu lửa bao trùm lấy cả không gian khét lẹt. Loạt đạn pháo tạm ngưng để quân địch tổ chức lại đội hình hòng tái chiếm trận địa.
Lê Trung Mẫn gạt lớp đất đá hất lên người. Một nửa đại đội đã hy sinh sau đợt pháo kích. Anh nghiến răng, cố kìm lòng. Thời gian chẳng đủ cho anh kịp rơi lệ vì những người đồng đội đã ngã xuống. Những tay súng còn lại của tiếp tục nhả đạn. Quân địch bị đánh bật ra lần thứ hai. Dẫu vậy, số vũ khí chống tăng của đại đội đã bị phá hủy gần hết, những xạ thủ tốt nhất cũng hy sinh khiến cho hỏa lực của đơn vị yếu hơn hẳn so với lúc mở màn. Nhận thấy không còn bị tấn công bằng đạn chống tăng, quân địch lại cho xe tăng M41 và chiếc thiết giáp M113 xung trận. Lính Mỹ và Việt Nam Cộng hòa nép mình sau những chiếc chiến xa lầm lũi tiến lên, áp sát chiến hào.
“Ầm!”
Chiếc xe tăng đi đầu khai hỏa. Lê Trung Mẫn ngã bật ra sau, choáng váng. Làn khói đen tan ra, để lại một mảnh đạn găm vào sườn trái. Máu rỉ ra, ướt đẫm cả áo nhưng anh không cảm thấy một chút đau đớn nào.
“Anh Mẫn bị thương rồi!”
Mẫn nhận ra tiếng của Hợi. Cậu lính trẻ quê ở Quảng Bình mà đơn vị mới bổ sung tháng trước. Hợi nói giọng địa phương khá nặng nhưng Mẫn vẫn nghe rất rõ từng lời.
“Mặc tôi! Bắn đi!”
Mẫn rít lên. Vớ lấy khẩu AK siết cò. Thế nhưng, băng đạn rỗng khiến anh khựng lại. Cậu lính trẻ nắm lấy tay anh, cương quyết:
“Vết thương nặng lắm. Anh phải về tuyến sau ngay!”
“Không được! Tôi là chỉ huy, làm sao có thể…”
Một tiếng nổ nữa lại vang lên, cắt ngang lời của Mẫn. Dẫu vậy, Hợi vẫn tỏ ra hết sức bình tĩnh:
“Mau đưa đại đội trưởng về tuyến sau! Tôi sẽ ở lại chặn bọn nó!”
Một người lính khác lao đến vác ngược Mẫn lên vai, mặc cho anh giãy giụa phản đối. Cơn sốt rét rừng hành hạ suốt hai tháng trời khiến anh chỉ còn da bọc xương, người lính kia vác ngược lên dễ dàng như vác cái chiếu không bị cuộn lại.
“Thả tôi xuống mau. Cao Xuân Hợi! Cậu giỏi lắm! Tôi mà xuống được là cậu chết với tôi…Tôi mà xuống được, tôi sẽ đá nát cái đít nhọn toàn ghẻ của cậu…”
Hợi mỉm cười, nhìn Mẫn lần sau cuối. Mắt rưng rưng.
“Đại đội trưởng!
Nếu em mà còn sống, anh ưng đá đít em mấy cái cũng được”.
Từ phía ngọn đồi, những quả đạn pháo lại xé gió lao đi nhằm hủy diệt mọi sự sống đã đưa vào tầm ngắm.
***
“Hợi ơi!”
“Tiếng ai đó?”
“Hợi ơi! Hợi ơi!”
“Ai gọi tôi đó?”
“Hợi ơi! Hợi!... Còn đó không? Hợi ơi!”
“Ai… Ai đó? Ai gọi tui đó?
Ông Hợi dần mở mắt. Luồng gió từ cánh quạt trần phả xuống mang theo cái hơi nóng của miền Tây Nguyên làm rát khuôn mặt nhăn nheo khiến ông nhận ra mình còn sống. Sau lớp màng mờ mờ ảo ảo, ông Hợi dần nhận ra những gương mặt quen thuộc và những khuôn mặt lạ lẫm. Một người đàn ông trong bộ quân phục thiếu tá và một người đàn ông nước ngoài.
“Tôi… đang ở mô đây?”
Ông Hợi nhăn mặt, ôm lấy đầu. Một cơn đau buốt như chạy khắp bán cầu khiến ông run lên như tê dại. Người đàn ông mặc quân phục xúc động ôm chầm lấy ông, hai khóe mi ầng ậc nước.
“Hợi ơi! Anh Mẫn đây! Lê Trung Mẫn - Đại đội trưởng Đại đội 3, Trung đoàn 52, Sư đoàn 320 đây! Hợi ơi! Anh tìm em suốt mấy chục năm qua, cuối cùng trời cũng không phụ lòng người…”
Đoạn, ông Mẫn không kìm được lòng, ôm chầm lấy người đồng đội đã xa cách bao năm. Nếu năm ấy, ông Hợi không quyết liệt đưa ông rời khỏi chiến hào thì có lẽ, ông cũng đã nằm lại cùng đồng đội dưới lớp đất bazan của Tây Nguyên nắng gió, đâu có thể được sống đến ngày toàn thắng.
![]() |
“Tôi đúng là Cao Xuân Hợi, nhưng không phải là người ông cần tìm… vì tôi thuộc đơn vị của Sư 308… Và cũng không có chỉ huy nào của tôi là… Lê Trung Mẫn cả…”.
Niềm hạnh phúc mong manh vỡ ra trên khuôn mặt của người đại đội trưởng. Một thời gian dài rong ruổi trên mọi nẻo đường để tìm người đồng đội, nhưng không có kết quả, thế rồi một tia hy vọng lóe lên khi có một người quen báo rằng đã tìm được người có thông tin trùng khớp. Nhưng số phận thật biết trêu ngươi con người.
Nhìn vẻ mặt nặng trĩu của ông Mẫn, người đàn ông nước ngoài hiểu ra vấn đề. Ông chính là viên chỉ huy quân Mỹ đã đụng độ với đại đội của Lê Trung Mẫn năm đó. Ba mươi năm trước, ông đến Việt Nam với tư cách là một kẻ viễn chinh trong một cuộc chiến phi nghĩa, ba mươi năm sau, ông trở lại Việt Nam để cùng hàn gắn những vết thương cho mảnh đất này và cho chính những cựu binh Mỹ như ông.
“Không phải khi nào số phận cũng mỉm cười!”
Người cựu binh Mỹ cất lời. Lê Trung Mẫn trầm ngâm đáp lại:
“Nhưng người đàn ông này cũng là đồng đội của tôi. Tôi phải có trách nhiệm với ông ấy.”
***
Làng Hậu Chánh hôm nay náo nhiệt hơn mọi ngày. Giữa hội trường nhà văn hóa, một người cựu chiến binh gầy gò trong bộ quân phục màu cỏ úa đang say sưa kể lại những kỷ niệm đáng nhớ của ông trong chiến tranh chống Mỹ.
“Ông Hợi! Ông Hợi điên!”
“Đúng là ông Hợi điên!”
Đám trẻ con ở dưới xì xào.
Một tiếng suỵt khẽ khàng vang lên.
“Bậy nào! Bác ấy là anh hùng chống Mỹ cứu nước đấy!”
Lũ trẻ ngơ ngác rồi im lặng hướng về sân khấu. Người cựu chiến binh vẫn say sưa kể chuyện, như sợ rằng đó là lần sau cuối được nói về những năm tháng hào hùng thời trai trẻ mà mình đã đi qua.









Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin