Văn nghệ Tuổi Hoa số 25

Nhiều tác giả 14:12, 13/07/2026

Trang Văn nghệ Tuổi Hoa số 25 với bài viết hướng về kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Phần văn xuôi, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bút ký "Theo dấu thời gian", của bạn Lê Đức Anh, học sinh lớp 11A1 của Trường Dân tộc Nội trú tỉnh Thái Nguyên. "Theo dấu thời gian" là chuyến trải nghiệm, khám phá của một tập thể học sinh tới những di tích lịch sử, danh thắng của miền Trung, nhưng tác phẩm của Lê Đức Anh là cảm xúc, suy nghĩ, nhận thức mang tính cá nhân, đánh dấu sự trưởng thành trong nhân cách và sự thăng hoa trong tâm hồn. Với Lê Đức Anh, miền Trung không chỉ đẹp về phong cảnh, thú vị, ấn tượng về bản sắc văn hóa, mà còn là dải đất với chiều sâu lịch sử, hiển hiện những vết thương chiến tranh, để rồi khi đối diện, chạm tay và hít thở trong không gian linh thiêng ấy, các bạn trẻ mới thấy thấm thía giá trị của hòa bình, thứ được đổi bằng máu xương của biết bao người đã ngã xuống.

Phần thơ xin giới thiệu tác phẩm "Màu Xanh" của bạn Trần Hải Đăng. Có thể nói, trong số những cây bút thơ học đường Thái Nguyên, Hải Đăng là một cây bút không ngừng sáng tạo, tìm tòi sự mới lạ trong ngôn từ và cách thể hiện. Tuy nhiên, cùng với sự mới lạ ấy, "Màu xanh" hiển hiện như bức tranh không chỉ một màu, nó rực rỡ, ấm áp với những đường nét đẹp và tinh tế. "Màu xanh" là câu chuyện về mẹ và cuộc đời con. Mẹ luôn ở bên con, luôn đồng hành cùng con. Mà sao, có những điều, chỉ có thể là thơ, mới thay con cất lên những điều con muốn nói.

(Nhà văn Tống Ngọc Hân chọn và giới thiệu)

 

Theo dấu thời gian

Bút ký của Lê Đức Anh

Tôi là Lê Đức Anh, học sinh lớp 11A1, Trường Dân tộc Nội trú tỉnh Thái Nguyên. Vừa qua, tôi đã có cơ hội tham gia chuyến đi học tập thực tế dài ngày cùng nhà trường, đi qua nhiều vùng đất Trung Bộ thân thương. Với tôi, đó là một hành trình khám phá đầy hứa hẹn mà những học sinh chúng tôi luôn háo hức.

Minh họa Ngọc Khánh
Minh họa Ngọc Khánh

7 giờ 28 phút ngày 11 tháng 4 năm 2026, xe bắt đầu lăn bánh, rời khỏi trường nội trú. Người đồng hành cùng chúng tôi trong suốt hành trình là anh Thắng, hướng dẫn viên của đoàn. Với vốn kiến thức lịch sử, địa văn hóa sâu sắc và lối kể chuyện giàu cảm xúc, anh đã giúp chúng tôi hiểu hơn về những địa danh tưởng như chỉ hiện diện trong sách vở. Và đánh thức những suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân mỗi chúng tôi.

Ngày 12 tháng 4 năm 2026, lúc 5 giờ sáng, chúng tôi đến đồi cát Quang Phú thuộc Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị. Ban đầu, nơi này không để lại trong tôi quá nhiều ấn tượng, nhưng đặt chân xuống cát, cảm nhận được cái lún nhẹ và sự mát lạnh len qua từng bước đi, tôi bắt đầu thấy mọi thứ trở nên khác đi. Tôi đi lên đỉnh đồi cát, hướng mắt sang trái, biển Quang Phú hiện ra. Chúng tôi đã đón bình minh tại đây. Ánh nắng le lói từ phía chân đồi, hửng dần lên mặt nước, nhẹ nhàng mà rực rỡ. Nắng mới thật đẹp và trong trẻo làm sao, tôi lúc ấy chỉ đứng yên và ngắm nhìn thật lâu. Trong khoảnh khắc ấy, tôi tự nhủ với bản thân rằng chuyến đi này sẽ mang đến cho mình thật nhiều điều may mắn và trọn vẹn.

6 giờ 50 phút, chúng tôi ăn sáng tại nhà hàng Cánh Buồm Đỏ. Phía sau nhà hàng là biển Nhật Lệ, nghe sóng vỗ rì rào, cảm nhận ánh nắng buổi sớm chạm lên da, tôi thấy lòng mình bình yên quá đỗi.

9 giờ 10 phút, chúng tôi đến Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn. Đoàn tôi vào thắp hương và làm lễ. 9 giờ 25 phút, một phút mặc niệm bắt đầu, khúc nhạc "Hồn tử sĩ" vang lên, không gian chùng xuống, gió dường như cũng lặng đi. Tôi đứng đó, mắt rưng rưng, sống mũi cay. Sau đó, đoàn chúng tôi tiếp tục di chuyển đến khu mộ của những người con Thái Nguyên đã nằm lại nơi đây, thắp những nén hương thơm tưởng nhớ sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ. Cảm xúc tôi dâng lên, không thể kìm nén lại được. Hàng trăm, hàng nghìn ngôi mộ nằm trải dài, mỗi ngôi mộ là một con người, một cuộc đời đã nằm lại vì Tổ quốc. Có những người còn rất trẻ, trẻ đến mức vừa mới nhập ngũ chưa đầy một năm. Tôi nhìn vào những tấm bia mộ, đọc từng dòng chữ mà nghẹn ngào thương xót.

Trước đó, khi còn ở trên xe, anh Thắng đã nhắc chúng tôi phải đi thật chậm, nói thật khẽ, giữ sự trang nghiêm, bởi nơi chúng tôi sẽ đặt chân đến không chỉ là đất, mà là máu, là xương của những người con đã ngã xuống để bảo vệ đất nước này. Có lẽ cũng vì thế mà giữa cái nắng gắt của miền Trung hôm ấy, tôi không còn cảm thấy nóng nữa, mọi cảm giác dường như tan biến, chỉ còn lại sự lặng lẽ và thiêng liêng bao trùm.

Rời khỏi nghĩa trang, chúng tôi đến cầu Hiền Lương, nơi từng là ranh giới chia cắt hai miền Nam - Bắc. Cầu có 2 nửa sơn màu khác nhau: màu xanh tượng trưng cho miền Bắc, màu vàng tượng trưng cho miền Nam. Đối diện cây cầu là tượng khát vọng thống nhất nằm ở bờ Nam sông Bến Hải. Cụm tượng khắc họa hình ảnh người mẹ miền Nam và em bé, biểu tượng cho nỗi mong chờ đoàn tụ và khao khát hòa bình, thống nhất non sông trong suốt 21 năm chia cắt. Đứng ở đó, tôi nghe cô thuyết minh viên kể về lịch sử cây cầu, cảm nhận được nỗi đau của sự chia cắt và khát khao đoàn tụ của cả dân tộc.

Trên đường đến điểm tiếp theo, không gian trên xe bỗng chìm vào một khoảng lặng khi những câu thơ quen thuộc vang lên:

“Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi

Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ

Trời cũng tự trong xanh và lộng gió

Dẫu ồn ào đừng lay mạnh hàng cây

Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi

Thành cổ rộng sao đồng đội tôi nằm chật

Mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật

Cho hôm nay tôi đến nghẹn ngào...”

(Trích Tấc đất Thành Cổ - Phạm Đình Lân)

Những vần thơ ấy, qua chất giọng miền Trung trầm ấm của anh Thắng, như một nỗi niềm da diết và day dứt thổi vào tâm hồn tôi. Từng câu, từng chữ thật chậm rãi, xoáy vào người nghe cảm giác đau thương, sâu lắng, như thể vết thương chiến tranh có trong lồng ngực mỗi người. Tôi đã từng đọc những câu thơ này, từng nghe chúng ở đâu đó, nhưng phải đến lúc này, khi được nghe trong một không gian như thế, giữa lòng Quảng Trị đầy nắng và gió, tôi mới thực sự tỉnh thức. Tôi nghe và hiểu rằng sự bình yên hôm nay không phải tự nhiên mà có. Hơn hết, tôi thấy trong lòng mình dâng lên một sự kính phục rất lớn đối với thế hệ cha ông, họ là những con người đã cầm súng để chúng tôi hôm nay được cầm bút, được học tập, được sống trong hòa bình. Khoảnh khắc ấy, tôi tự nhắc mình phải biết nhớ, nhớ để biết ơn, và biết ơn để sống có trách nhiệm hơn với chính cuộc đời của mình.

Không gian tiếp tục lắng đọng khi những dòng thư cuối cùng của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh được tái hiện, người chiến sĩ đã viết cho gia đình khi linh cảm trước sự hy sinh của chính mình. Tôi không chỉ nghe, mà tâm trí còn tưởng tượng khi ấy, đồng chí run rẩy hay vững vàng đến nhường nào. Giọng đọc trầm xuống, nghẹn ngào, và tôi thấy sống mũi mình cũng cay xè theo. Tôi nghĩ, để kể một câu chuyện mà chính mình phải nghẹn lại như vậy, không phải là điều dễ dàng. Không phải cứ đọc là có thể khóc, mà chắc chắn chỉ khi câu chuyện ấy thực sự chạm đến tận sâu trong lòng, người ta mới không giấu được cảm xúc của mình. Những lá thư không còn là lời nhắn nhủ hay hỏi thăm, mà là lời chia tay trong khi họ vẫn đang sống, đang chiến đấu. Nghe đến đó, tôi thương lắm. Thương cho một thế hệ đã phải đối diện với cái chết quá gần, quá đau đớn khi tuổi đời còn non trẻ, chịu đựng những đau đớn thể xác tột cùng để đất nước được sống. Cũng từ khoảnh khắc ấy, tôi hiểu thêm một điều, rằng để truyền tải được những câu chuyện về lịch sử, chiến tranh, đau thương và mất mát, không chỉ cần kiến thức về những con số, mà cần cả một trái tim đủ lớn, đủ mạnh mẽ và nặng tình.

Chúng tôi đi qua sông Thạch Hãn. Dòng sông lặng lẽ trôi, hiền hòa đến mức nếu không được nghe kể lại, có lẽ một người trẻ như tôi sẽ không thể hình dung được nơi đây từng là một “dòng sông lửa”, nơi biết bao con người đã ngã xuống trong 81 ngày đêm khốc liệt năm 1972. Tôi nhìn dòng nước trôi, mà lòng trĩu nặng, ngẫm nghĩ về sự hy sinh thầm lặng mà cao cả của những người con đất Việt.

13 giờ 18 phút, chúng tôi đặt chân đến Thành Cổ Quảng Trị, một mảnh đất linh thiêng. Cả đoàn được tham gia lễ dâng hương, dòng người lần lượt thắp những nén hương lên đài tưởng niệm cho các chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Và rồi, khúc nhạc “Hồn tử sĩ” lại lần nữa vang lên. Gai ốc tôi vẫn nổi lên từng đợt. Mắt tôi hướng lên đài tưởng niệm, đứng yên, lặng lại, bày tỏ lòng tôn kính. Nghe cô thuyết minh viên kể lại, những câu chuyện được nối tiếp, được mở rộng, nước mắt tôi lại rơi. Cô đọc lá thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, giọng cô ngân dài như một lời tiễn đưa. Không phải là kể nữa, mà giống như đang khóc thay cho những con người đã nằm lại nơi này. Tôi đứng giữa không gian ấy với bao suy nghĩ đang chồng chất nhau.

Rời Thành Cổ, chúng tôi lên xe, mang theo trong lòng những cảm xúc chưa kịp gọi tên. 15 giờ 40 phút, đoàn đến khách sạn Hoàng Anh để nghỉ ngơi và ăn tối. Mọi thứ diễn ra bình thường như một điểm dừng chân nghỉ ngơi trong hành trình, nhưng trong tôi, những hình ảnh ban chiều vẫn choán đầy tâm trí.

19 giờ 50 phút, chúng tôi bước lên thuyền rồng, bắt đầu một trải nghiệm rất khác, đó là nghe ca Huế trên sông Hương, điều mà trước đây chỉ có những vua chúa trong triều đình mới được thưởng thức. Không gian lúc ấy thật đặc biệt. Dòng sông Hương trôi chậm, êm đềm, mang theo cả những câu chuyện của cố đô qua bao năm tháng. Những làn điệu ca Huế cất lên, vừa phảng phất nét dân gian, vừa nhẹ nhàng, mà sâu lắng. Tôi ngồi đó, lặng im nghe, thấy lòng mình nhẹ nhàng trở lại. Sau một ngày đầy xúc động và nghẹn ngào, khoảnh khắc ấy như một khoảng lặng để tôi được thả trôi cảm xúc của mình theo dòng nước. Khi những câu hát khép lại, mỗi thành viên trong lớp tôi được cầm trên tay một ngọn đèn hoa đăng, nhẹ nhàng thả nó xuống sông. Tôi nhìn theo ngọn hoa đăng trôi, hình như tôi cũng vừa buông xuống được điều gì đó giống như những lo toan, những mệt mỏi, chỉ còn lại những cảm xúc chưa thể gọi tên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2026, thức dậy ở một nơi xa, đón bình minh không phải trên quê hương thân thuộc, cảm giác khi ấy thật khác lạ. Mọi thứ dường như chậm hơn, con người nơi đây cũng vậy, họ không vội vã, ồn ào, nhộn nhịp như tôi vẫn thường thấy. Một buổi sáng yên bình, đủ để tôi nhận ra mỗi vùng đất đều có một nhịp sống riêng, và Huế là nhịp sống của sự trầm lặng.

Hành trình ngày hôm nay, chúng tôi đã đi qua cầu Vĩ Dạ. Ở đó, tôi được nghe lại những câu thơ của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Những câu thơ không còn chỉ là bài học trong sách vở nữa, mà như hòa vào cảnh vật, trở thành một phần của chính mảnh đất này. Ngồi trên xe, tôi lắng nghe và cảm nhận được vẻ đẹp rất riêng của Huế, nó nhẹ nhàng, trong trẻo mà đầy chiều sâu.

Tiếp đó, chúng tôi đến Đại Nội Huế. Lần đầu, tôi được tận mắt nhìn thấy công trình Phu Văn Lâu, hình ảnh vốn rất quen thuộc trên tờ tiền 50.000 đồng mà tôi vẫn cầm trên tay mỗi cuối tháng đi về nhà. Đứng trước công trình ngoài đời thực, cảm giác tôi lại hoàn toàn khác, đó là một sự hiện hữu, một chứng nhân lịch sử đang trường tồn với thời gian. Trên cao là ngọn cờ đỏ sao vàng bay phấp phới trong gió, một khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng đủ dậy lên trong lòng tôi một niềm tự hào khó tả. ...Có những điều quen thuộc đến mức ta không để ý, nhưng khi đứng trước nó, trong một không gian khác, ta mới nhận ra nó thiêng liêng đến nhường nào. Do lịch trình của đoàn phải di chuyển khá nhanh, tôi tiếc nuối vì chưa kịp chụp cho mình một bức hình nào. Nhưng rồi, lời nhắc nhở của anh Thắng về giá trị của những khoảnh khắc tuổi trẻ mà chúng tôi đang có cùng nhau đã...     ...khiến tôi bừng tỉnh. Thế nên, thay vào đó, tôi chọn cách ghi lại tất cả bằng trí nhớ, cảm xúc, và những lời dặn dò chân thành. Bởi tôi tin có những khoảnh khắc dù không nằm trong một khung hình nào, vẫn sẽ ở lại rất lâu và rất sâu trong lòng mình.

Ở Kinh thành Huế, chúng tôi được chứng kiến những nghi lễ cung đình, được nghe thuyết minh, rồi tự do tham quan. Bên trong, giữa không gian đậm chất lịch sử của dân tộc, tôi đã bắt gặp rất nhiều du khách đến từ những nơi xa xôi khác nhau trên thế giới. Tôi cùng các bạn đã mạnh dạn trò chuyện. Những câu chào, những đoạn hội thoại ngắn, có thể chưa trôi chảy nhưng là những kiến thức tôi đã học bấy lâu nay, hôm đó mới được thực hành. Tôi nhận ra rằng, khi mình cởi mở hơn, khoảng cách ngôn ngữ mới được thu hẹp lại. Trong khoảnh khắc ấy, tôi vui sướng lắm, vui vì mình có thể nói, có thể hiểu, và vui hơn nữa khi thấy đất nước mình, văn hóa của mình đang được bạn bè quốc tế quan tâm và trân trọng.

Rời Đại Nội, chúng tôi tiếp tục hành trình đến chùa Thiên Mụ. Ngay từ những bước đầu tiên, tôi choáng ngợp trước những bậc thang cao và dốc dẫn lên chùa. Tôi bước từng bước chậm rãi, vừa đi vừa hướng mắt về phía trước, lòng chợt lắng lại khi nhớ đến ý nghĩa sâu xa của lối kiến trúc này. Người xưa khi xây dựng đền chùa hay nhà cửa thường làm bậc cao trước nhà như vậy đều có ý nghĩa cả, bởi khi bước lên, con người có xu hướng cúi đầu xuống để quan sát và bước đi cẩn thận, chính cái cúi đầu ấy như là cách để thể hiện lòng thành kính ngay từ khi vừa đặt chân vào nhà người khác hoặc nơi linh thiêng. Bước sâu vào bên trong, tôi cùng các bạn chắp tay cầu bình an. Không gian chùa yên tĩnh, nhiều cây xanh, cái nắng như đang dịu lại, chỉ còn sự thanh thản, an yên trong lòng. Chính tại nơi ấy, tôi đã có một trải nghiệm mà có lẽ tôi sẽ nhớ mãi. Tôi đã gặp và trò chuyện với một anh khách du lịch nước ngoài đến từ Luân Đôn. Ban đầu chỉ là vài câu chào hỏi đơn giản, nhưng rồi câu chuyện dần kéo dài hơn, anh chia sẻ mình học ở một trường thể thao, đã đi qua rất nhiều nơi trên thế giới, nhưng Việt Nam đã để lại cho anh nhiều ấn tượng nhất. Tôi lắng nghe, vừa vui, vừa có cảm giác rất khó tả. Trong khoảnh khắc ấy, tôi không còn nghĩ mình chỉ là một học sinh đang đi tham quan nữa, mà thấy mình như đang đại diện cho một phần rất nhỏ của đất nước này để trò chuyện, để chia sẻ và giúp người khác hiểu hơn về Việt Nam.

Trước đây, tôi vẫn nghĩ người nước ngoài rất thân thiện. Nhưng sau cuộc trò chuyện ấy, tôi được chia sẻ rằng chính chúng ta, những con người Việt Nam mới là những người đã tạo nên sự thân thiện đó. Không phải vì đất nước mình có nhiều cảnh đẹp, mà bởi con người nơi đây hiếu khách, chân thành và cởi mở. Tôi vui lắm, vui vì mình đã dám nói, vui vì mình đã hiểu, và đặc biệt là khi nhận ra mình có thể dùng chính ngôn ngữ mình học để kết nối với thế giới ngoài kia. Tôi tự nhủ, hy vọng sau này mình sẽ gặp thêm nhiều người hơn nữa, được trò chuyện nhiều hơn nữa, để hiểu thế giới và cũng để thế giới hiểu hơn về đất nước mình.

Chiều hôm ấy, chúng tôi đến lăng Khải Định. Nếu chùa Thiên Mụ mang đến sự thanh tịnh, nhẹ nhàng, thì nơi đây lại khiến tôi ấn tượng bởi sự hoành tráng và cầu kỳ trong từng chi tiết kiến trúc bên trong. Mọi thứ được xây dựng rất công phu, tỉ mỉ, tạo nên một không gian vừa uy nghi, vừa khác biệt. Tôi đặc biệt ấn tượng với bức vẽ trên trần nhà bởi nó được thực hiện bởi nghệ nhân Phan Văn Tánh bằng chân thay vì tay. Để xây dựng được một công trình hùng vĩ như vậy, người dân khi đó đã phải đóng góp rất nhiều công sức và tiền của.

Buổi tối, chúng tôi được tự do tham quan phố đi bộ, ăn chè hẻm và dạo quanh thành phố. Điều khiến tôi ấn tượng hơn lại là con người nơi đây. Tôi đã mua nước, đồ ăn, trò chuyện cùng họ và ấn tượng với cách họ nói chuyện, phục vụ, và cả giá cả, tất cả đều rất dễ chịu. Thật may mắn khi không có sự chặt chém hay cảm giác bị làm khó như nhiều người vẫn lo ngại khi đi du lịch.

Ngày 14 tháng 4 năm 2026, chúng tôi đến thăm nơi an nghỉ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bên cạnh là PGS. Đặng Bích Hà, phu nhân của ông. Không gian nơi ấy thật trang nghiêm. Tôi đứng trước phần mộ, trong lòng dâng lên cảm xúc khó tả, vừa tự hào, vừa xúc động. Một con người đã đi qua chiến tranh, đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của dân tộc, để rồi trở thành biểu tượng của trí tuệ, của lòng yêu nước và của một nhân cách lớn. Điều khiến tôi kính trọng nhất, không chỉ là tài năng của một vị đại tướng, mà còn là sự giản dị, gần gũi khi một con người luôn sống đúng với lời dạy của Bác Hồ, luôn coi mình là học trò của Bác, luôn đặt Tổ quốc lên trên hết. Đứng ở đó, thấy biết ơn sâu sắc của vị đại tướng tài giỏi, giản dị mà cao thượng.

Chúng tôi tiếp tục hành trình đến Nghệ An. Chiều hôm đó, sau khi hoàn thành xong các thủ tục nhận phòng, tôi cùng các bạn chạy ra biển Cửa Lò. Sóng ở đây lớn, mạnh, từng đợt xô vào bờ không dứt. Giữa không gian ấy, trong đầu tôi chợt vang lên những câu hát quen thuộc:

“Nơi anh đến là biển xa. Nơi anh tới ngoài đảo xa…..”

Không hiểu sao, giữa biển trời rộng lớn như vậy tôi lại thấy lòng mình vừa thanh thản, vừa mở ra theo từng con sóng, cùng những khúc hát về biển hiện lên trong tâm hồn. Chúng tôi chỉ chơi khoảng 30 phút rồi quay về nhà hàng để tham gia buổi galadinner. Đó là một buổi tối rất khác, bởi sau những giờ phút lắng lại với lịch sử, với những câu chuyện đầy xúc động, thì lúc này, chúng tôi được sống đúng với lứa tuổi thanh xuân của mình, được cười, được hát, được nói chuyện và vui đùa cùng nhau. Đêm galadinner bùng nổ trong những tiếng cười, tiếng hát và những cái đập tay gắn kết. Dưới sự bắt nhịp khéo léo của anh Thắng, cả tập thể lớp 11A1 như hòa làm một. Kết thúc buổi gala, chúng tôi ngồi trên xe điện, đi vòng quanh Cửa Lò. Gió biển thổi mát, mang theo cảm giác rất dễ chịu. Mọi thứ ở đây diễn ra chậm rãi, không đông đúc, không ồn ào như ở Thái Nguyên, cũng không nhộn nhịp như ở Huế. Những quán xá thưa hơn, những khách sạn có phần cũ hơn, tạo nên nét riêng, sự bình dị và giản đơn. Sau tất cả, có lẽ điều quý giá nhất của chuyến đi này không chỉ là đã đi được bao nhiêu nơi, mà là những cảm xúc mình đã lưu giữ lại được.

Sáng 15 tháng 4 năm 2026, tôi dậy rất sớm. Buổi sáng hôm ấy mang một cảm giác rất khác. Tôi bước chậm dọc theo bờ biển, nhìn những cơn sóng vẫn đều đặn xô vào bờ, lòng chợt dâng lên những tiếc nuối. Bởi đó là buổi sáng của hành trình chuẩn bị khép lại, buổi sáng cuối cùng.

Trước khi trở về, đoàn chúng tôi ghé thăm quê nội của Bác Hồ, thăm ngôi nhà nhỏ đơn sơ ở làng Sen. Nơi đây cũng chính là địa danh được in trên tờ tiền trị giá 500.000 đồng. Mọi thứ ở đó giản dị đến mức khiến tôi phải suy nghĩ về con người vĩ đại của dân tộc lại lớn lên từ một nơi bình dị như thế. Bác đã rời quê hương, bôn ba khắp nơi để tìm đường cứu nước, vậy mà mỗi lần trở về, chỉ một chi tiết nhỏ thôi, Bác vẫn nhớ, vẫn nhận ra. Tôi đứng đó, giữa không gian yên bình, thấm thía một điều, những giá trị lớn lao xuất phát từ những điều rất nhỏ và bình dị.

Rời quê Bác, chúng tôi lên đường trở về. Xe lại lăn bánh, đưa chúng tôi rời khỏi miền Trung, nói lời tạm biệt với những nơi đã đi qua, những con người đã gặp, và cả những cảm xúc vui buồn. Trên đường, tôi được chiêm ngưỡng vẻ đẹp đèo Ngang. Dù không được trực tiếp đi qua, trong tôi gợi lên những câu thơ quen thuộc của Bà Huyện Thanh Quan:

“Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà...Một mảnh tình riêng ta với ta”.

Không gian ấy, những câu thơ ấy, và cả hành trình này dường như hòa vào nhau, để lại cảm giác rất khó diễn tả. Chuyến đi này, có thể không phải là chuyến đi vui nhất, nhưng lại là chuyến đi khiến tôi trưởng thành và nhớ nhiều nhất. Tôi đã đi qua những vùng đất mang dấu ấn của lịch sử, đã lắng nghe những câu chuyện mà trước đây chỉ biết qua sách vở, đã gặp những con người khiến tôi phải suy nghĩ nhiều hơn về cách mình đang sống. Cảm ơn anh Thắng, người bạn đồng hành đã giúp chúng tôi thấu hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa của từng điểm dừng chân trên hành trình này. Anh đã mở ra cánh cửa để tuổi trẻ của tôi được gặp gỡ, được thấu cảm với tuổi trẻ kiên cường của thế hệ cha ông đi trước

Tôi biết ơn chuyến đi này. Biết ơn những gì mình đã thấy, đã nghe, đã cảm nhận. Và điều tôi mang về không phải là những bức ảnh, hay những kỷ niệm thoáng qua, mà là một cảm xúc rất thật về quê hương, đất nước và cả những con người đã sống và hy sinh để chúng ta có được ngày hôm nay. Để rồi sau này, khi nhớ lại, tôi sẽ không chỉ nhớ mình đã đi đâu, mà nhớ mình ấn tượng nhất ở những nơi nào.

Nếu một ngày nào đó, khi đọc lại những dòng chữ này, tôi hy vọng mình vẫn được sống nguyên vẹn với những cảm xúc của hôm nay, một hành trình không chỉ để đi, mà để nhớ, để hiểu, và để yêu nhiều hơn.

 

 

 

 

 

 

Trần Hải Đăng

 

Màu xanh

 

Thế giới của con,

Vầng trăng say giấc ngủ

Trong tình yêu nho nhỏ

Qua mái tóc mẹ hôn

Nghe gió hát ru trong vỏ sò

Giấc mơ của mẹ âm thầm và lặng lẽ

Những ngày thơ ấu bên mẹ

Vô vàn bức tranh xanh một màu xanh được vẽ:

Vẽ một cuộc đời trong đôi mắt con

Tung tăng cùng lũ cá voi,

Qua ốc đảo ngày thơ rồi tinh cầu cô đơn xa tít tắp.

 

Hoàng hôn cứ tràn về theo từng giây biển nhớ

Những dấu vàng bé nhỏ in cát nắng khi xưa,

Đã xém nồng thoảng len qua tay

Nghe thời gian trôi dần trong xạo xạc lòng mình.

 

Thế giới của con,

Xanh rì biển cả những cung thuyền xuôi ngược

Nhíu mày tiễn đưa những trái tim ao ước

Cứ thế mà xa dần tháng năm,

Biển cả còn xanh trong đôi mắt

Vây quanh bốn bức tường thủy mặc,

Đếm hoài trên ngón tay bé bỏng

Chờ một ngày biển cả lại xanh nơi chân trời chiều hôm

Cả thế giới của con được bàn tay mẹ

Dìu đi khắp bốn bể xa xôi

Vây quanh con là trái tim của đất trời.

 

Đứng trước chân mây hoàng hôn mặn

Trước muôn trùng sóng bể lòng mình không thể quên

Trước những ngày lặp lại hàng đêm

Con phải đi tìm kí ức nơi bức hình xanh,

Chân mây nắng vàng, xanh cuộn màu rệu rã,

Lắng nghe trái tim mình đập theo từng nhịp sóng

Lắng nghe kí ức gọi mình về một giấc mơ xanh màu hy vọng.

 

Hy vọng lẫn trong đó một màu xanh

Một giấc mơ xanh, thật xanh,

Đưa trái tim trở về

Ấp ôm ngày thơ bé ngô nghê

Cho trái tim đã chai sạn lòng con một bến đỗ

Ngày mai mệt mỏi được thiếp đi trong chút màu xanh còn vương lại

Nghe lời ru êm ả còn biết mấy ngày mai.

 

Mà con chỉ sợ

Một chút, một chút thôi

Trái tim con có lẽ đã lạc lõng,

Giữa biển người mênh mông ngoài kia rồi…