Viết về một người con đã về với núi

Nông Văn Kim 15:23, 13/07/2026

Tôi gặp anh Triệu Kim Văn khá muộn, mãi đến tháng 11 năm 2001, khi cơ quan Tỉnh ủy Bắc Kạn (cũ) chuyển lên địa điểm mới (khu đồi thông) bây giờ. Chiều hôm ấy, anh Ma Văn Bổn, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy gọi cho tôi (qua điện thoại nội bộ):

- Anh sang chỗ tôi có việc này cần trao đổi!

Hai người khách lạ đứng dậy, người đàn ông dáng cao gầy, mắt sáng, chúng tôi bắt tay nhau.

-  Tôi là Triệu Kim Văn, nghe tên anh khá lâu, bây giờ mới được gặp. Còn đây là chị Thúy Ngân, Thư ký Tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Ba Bể.

Người phụ nữ trẻ, mắt đeo kính cận, tiến lại bắt tay tôi:

- Cháu được biết, chú có vốn sống cho văn chương khá dày.

 Sau cuộc hội ngộ có phần trang trọng do Chánh Văn phòng kết nối, thêm mấy lần chủ động giao lưu, đàm đạo đã đưa tôi gần gũi hơn với Triệu Kim Văn, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn, tôi đến với Văn chương bằng truyện ngắn đầu tay “Người thợ săn cuối cùng”.

Hoá ra, hai chúng tôi chỉ vênh nhau một tuổi, cùng tuổi thơ gắn bó với những dãy núi cao, nhưng con sông dài, suối sâu… những thửa ruộng bậc thang như tranh vẽ, những vạt nương rẫy chạy tít trên đồi mờ sương, những ngày bẫy chim trên rừng, bắt cá dưới sông… cùng cảnh bài học vỡ lòng từ những con chữ mới lạ, là học tiếng Kinh, ngôn ngữ thứ hai của dân tộc mình.

Anh là người dân tộc Dao, đi học Trường Thiếu nhi vùng cao Khu tự trị Việt Bắc (nay là Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc). Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội ra trường công tác tại Ban Dân tộc ở Tỉnh ủy Bắc Thái. Sau khi tách tỉnh, anh về quê Bắc Kạn, công tác tại Huyện ủy Bạch Thông, rồi Phó Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bắc Kạn và Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn lâm thời và khóa I (nhiệm kỳ 2000-2005). Hơn mười năm đi học, xa nhà; hành trang mang theo là những kỷ niệm tuổi ấu thơ gắn với nơi làng quê yêu dấu. Hơn mười năm, từ cậu thiếu niên vùng cao, trở thành một chàng trai trẻ chững chạc bước vào đời với những kiến thức được trang bị bài bản, tình yêu quê hương đã được chắp cánh thành những vần thơ. Anh may mắn được đi theo nghề phù hợp sở trường của mình là dân vận, văn hóa, dân tộc và sáng tác văn học nghệ thuật. Sau đấy là những mùa đơm hoa, những mùa kết trái quả ngọt cho đời.

Trên cương vị là Chủ tịch Lâm thời (1998-1999) và Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn khóa thứ nhất (2000-2005). Ông Triệu Kim Văn cùng Ban Chấp hành đã có nhiều cố gắng phát huy nội lực của Chi hội VHNT Bạch Thông, tiếp nhận có hiệu quả sự chi viện của các văn nghệ sĩ Thái Nguyên. Công tác tuyên truyền, quảng bá Tạp chí Văn nghệ Ba Bể được chú trọng, qua đó phát hiện, kết nạp được thêm một số hội viên tâm huyết, nâng cao dần đội ngũ sáng tác về số lượng và chất lượng.

Về tác phẩm. Ông để lại 11 tập thơ và 2 tập sưu tầm là “Câu đố dân tộc Dao - Và mấy Dào miền” và “Vả Tặp Tàu - tục ngữ, thành ngữ dân tộc Dao”.

Thơ Triệu Kim Văn trầm lặng, sâu sắc, kín đáo và khiêm nhường, như một ngọn núi đá tĩnh lặng bền bỉ và sâu sắc giữa núi rừng đại ngàn, có khi chỉ như làn gió thoáng qua tán lá, lời mộc mạc như câu thoại có vần trong mâm cơm gia đình mấy thế hệ, mang màu sắc ca dao, tục ngữ chuyển tải lời hay ý đẹp cho các thế hệ kế tiếp.

Trong giao tiếp, ông kiệm lời, chỉ những người tri kỷ mới hiểu được, cảm được góc nhìn tinh tế, nhân văn về quê hương, với bao điều mới mẻ bất tận về cộng đồng, về bản sắc văn hóa Dao. Thơ ông có tầm phủ quát khá rộng, cái nhìn tinh tế từ làng bản quê hương, những địa danh, phong tục tập quán đến những vẫn đề thời đại của đất nước và quốc tế.

Mảnh đất quê hương, ký ức không bao giờ phai:

Con gà chíp của tôi

Chẳng biết gà trống hay gà mái

Tôi sinh ra tên ấy đã có rồi

Nà Cáy, Nà Cáy, Nà Cáy

Ruộng của dòng họ Triệu tôi

 

Thổ cẩm

 Bất chợt ngã lòng không nắng gió

 Chỉ sắc hoa văn ngây ngất men

 Giá xô được núi vịn trăng xuống

 Khỏa một trời riêng thổ cẩm em

Về người thương binh trở về sau cuộc chiến:

Người đi hình chấm phảy

Vẫn đi trong cuộc đời

Đi ngang qua nắng cháy

Đi ngang qua mưa rơi…

Chiến tranh đã lùi xa

Vết thương giờ lành lặn

Duy chỉ lời mảnh đạn

Vẫn nhắc nhở không thôi

 

Những dấu chấm phảy rơi!...

(9/1997)

Mang theo hồn cốt Việt đến với bạn bè quốc tế

Hồn Việt

Cả nhân loại quây quần về Thâm Quyến

Những Kim Tự Tháp. Tháp Ép Phen

Giữa tinh cầu đủ sắc màu huyền thoại

Linh thiêng chùa hồn Việt tỏa Đài Sen.

(Năm 2002)

 

Nỗi niềm với người ra đi 

Phố núi khuất một người

Vĩnh biệt hoạ sĩ Bế Ngọc Mong

 

Phố núi

Có một người hâm

Suốt ngày loay hoay bôi vẽ

Khúc gỗ bên đường ngồi ghé

Bỗng thành tác phẩm suối tóc nàng tiên

 

Vậy mà thế gian lại chật với người hiền

Thoáng chốc đã trần ai cát bụi

Ơi người hâm sao bước chân quá vội

Để phố buồn ngơ ngác một chiều mưa

 

Ngõ người hiền

Cứ ngày mỗi thêm thưa!

(24/6/2004)

 

Dự cảm với chính mình

 

Nếu tôi chết

Nếu tôi chết hãy đưa tôi về núi

Để hồn tôi tìm lại chiếc nhau mình

Trong lồng nhỏ mẹ tôi treo bờ suối

Cành cây giờ đã vươn xanh

Nếu tôi chết hãy đưa tôi về núi

Nấm mồ hoang lạc giữa đại ngàn

Cho cát bụi lại trở về cát bụi

Như thuở xưa ngày ấy họ Bàn!

(Năm 1991)

Với công lao đóng góp của anh trong những năm tháng đầu thành lập và vận hành Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn (cũ) cùng những tác phẩm văn học để lại cho người đời không nhỏ của anh. Năm 2025, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên đã có kế hoạch tổ chức hội thảo “Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Triệu Kim Văn”. Rất tiếc, do nhiều lý do khác nhau, hội thảo đã không tổ chức được.      

"Nếu tôi chết hãy đưa tôi về núi..."

Hôm nay, sau 81 mùa xuân trên đời, sau dự cảm 35 năm, ngày 25 tháng 6 năm 2026, ông đã  trở về với núi, về với cụ Bàn Tài Đoàn nhà thơ - cây đại thụ của dân tộc Dao.

Vẫn biết lời cổ nhân dạy: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”. Nhưng sao trong lòng tôi vẫn bàng hoàng, hụt hẫng, trĩu nặng trong suy tư. Vĩnh biệt ông, Triệu Kim Văn.

Nhà thơ Triệu Kim Văn (1945-2026)
Nhà thơ Triệu Kim Văn (1945-2026)

Nhà thơ Triệu Kim Văn, sinh năm 1945, tại một bản nhỏ thuộc xã Cao Sơn, huyện Bạch Thông (nay là xã Vĩnh Thông, tỉnh Thái Nguyên) là hội viên người Dao của Hội Nhà văn Việt Nam thứ 2 sau nhà thơ Bàn Tài Đoàn.
Tác phẩm tiêu biểu:
Hoa núi (1989), Mùa sa nhân (1994), Lá tìm nhau (1999), Con của núi (2002, thơ song ngữ Dao-Việt), Lửa của mồ côi (2002)… Đến nay ông đã có cho riêng mình hơn 11 tập thơ, sách văn hóa được xuất bản.
Giải thưởng:
Giải chính thức – Ban Văn học dân tộc Hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ Mùa sa nhân năm 1995; Giải C, giải thưởng 5 năm của tỉnh Bắc Thái, 1987-1992; Giải C, giải thưởng của Hội VHNT các DTTS Việt Nam cho tập thơ song ngữ Dao – Việt Con của núi, 2002. Năm 2013, cuốn “Vả Tặp Tàu – tục ngữ, thành ngữ dân tộc Dao” đã được Hội văn nghệ dân gian trao giải Ba...