Những ngày cuối năm 1076, triều đình nhà Tống đưa hàng chục vạn quân xâm lược Đại Việt. Một cánh quân theo hướng Bắc chiếm châu Quảng Nguyên, ý đồ đánh thẳng xuống Thái Nguyên chiếm tuyến phòng thủ của ta, hợp quân với đại binh kéo sang từ ải Nam Quan tấn công kinh thành Thăng Long.
![]() |
| Minh họa: Dương Văn Chung |
Từ châu Quảng Nguyên quân Tống tiến đánh Môn Châu. Trận chiến diễn ra đẫm máu. Quân Đại Việt có tượng binh giúp sức đã gây cho chúng nhiều thiệt hại.
Thị sát phòng tuyến Ngân Sơn, trước các quan tổng quản đội binh và một số tộc trưởng được triệu tới, Lang Trung tướng quân Nùng Tông Đản cầm cây gậy chỉ tấm bản đồ tác chiến:
- Tập trung binh lực chặn đánh, kìm chân địch càng lâu càng tốt tại Tài Hồ Sìn, đèo Gió, đèo Giàng, Phủ Thông. Trấn Thái Nguyên là chốt chặn cuối, không cho chúng hợp quân với đại binh…
Tộc trưởng Hoàng Minh Hạ vòng tay bước lên một bước, nghiêm cẩn:
- Xin chủ tướng cho tiểu nhân điều binh chia lửa với Môn Châu.
Lang Trung tướng quân lại gần, thân mật vỗ vai Hoàng Minh Hạ
- Quân sĩ của huynh và Nông Văn Nghinh giỏi cung nỏ, thạo leo trèo núi non, ta muốn các huynh trấn đóng trên đèo Gió. Một phần quân cùng đội kỵ mã tiếp chiến tại Tài Hồ Sìn. Linh hoạt đánh kỳ binh gây rối đội hình địch, triệt phá bọn tiếp viện khí giới, lương thảo, tránh đối mặt cận chiến - Ông quay sang các tộc trưởng ân cần - Đại Việt muôn người không mặc binh phục thề quyết bảo vệ giang sơn, đó cũng chính là bảo vệ cha mẹ vợ con, họ hàng làng bản. Ta và các huynh đệ ngôi thứ khác nhau, nhưng cùng chung chiến địa. Một lòng trung quân báo quốc, ta nghĩ danh thơm còn mãi đến muôn đời…
Trên biên viễn, đất đai Đại Việt và nhà Tống chưa có sự phân định rạch ròi bằng chỉ giới. Các đời vua hai bên mới thảo lược nghị định qua sứ giả sau nhiều lần phân tranh. Tộc trưởng coi mình là người bên nào thì đất đai thuộc bên đó. Triều đình nhà Tống không ngại bỏ ra khoản ngân khố lớn để chiêu thảo, mua chuộc. Vua Đại Việt chu cấp bổng lộc, nhưng chưa hẳn họ đã là thần dân của mình, bởi một số không nề hà nhận bổng lộc của cả hai bên. Dẫu vậy, nhiều bộ tộc thấy rõ dã tâm của nhà Tống và không chịu khuất phục.
Cũng như một số bộ tộc tại những cương vực khác, bộ tộc của Hoàng Minh Hạ luôn được các đời vua Đại Việt ban ân. Hằng năm, nhà vua đều gửi cho muối, gạo, miễn mọi khoản sưu thuế, phu phen. Tộc trưởng được hưởng bổng lộc bằng một phần tri châu, tri phủ. Người có công trạng được vua ban sắc phong. Quân triều đình còn bảo vệ bộ tộc khỏi họa thảo khấu đạo tặc. Tổ tiên của Hoàng Minh Hạ truyền lại: Từ thuở khẩn hoang lập bản ấp, trái tim người Tày đã đập cùng muôn trái tim Việt. Đánh giặc cũng như cày bừa cấy hái, nó là một trong mọi kế sinh tồn. Phúc đức của dòng tộc tại tâm.
Đèo Gió, con đèo kỳ vĩ, hiểm trở nhất trên đường cái quan. Cánh quân Tống chưa đến chân đèo đã bị mai phục. Thi thoảng một rừng mũi tên găm xuống đội hình. Lúc chúng hoàn hồn thì chung quanh vắng lặng, trùng điệp núi rừng.
Bắn xong nhiều loạt mũi tên chặn đứng bước tiến của địch, Tộc trưởng Hoàng Minh Hạ ra lệnh lui binh. Nghỉ ngơi chưa đầy nửa canh giờ, quan đốc trận vội vã phi ngựa tới, nét mặt đầy vẻ suy tư:
- Tộc trưởng Nông Văn Nghinh bỏ vị trí cự chiến, chắc không còn nhuệ khí. Đại nhân có cách gì…?
Nhiều ngày qua, những người đã cầm quân theo Đại Việt chiến Tống đều có nghĩa khí, dám xả thân vì nghĩa lớn. Bỗng dưng ngừng xuất binh, liệu vì dao động, mất tinh thần hay còn vì lý do nào khác? Vẫn biết ở đời danh dự là quan trọng, nhưng nhân tâm khó lường.
- Ta vẫn nói với quân sĩ: Trong chiến trận, bất tuân thượng lệnh là phạm tội khi quân. Tội ấy phải xử trảm. Chắc có điều gì đó uẩn khúc. Đại huynh để ta- Ông cho gọi mã thám và lên ngựa, một tay nắm đốc kiếm như muốn tuốt khỏi vỏ.
Gặp Tộc trưởng Nông Văn Nghinh, Hoàng Minh Hạ khảng khái:
. - Đại huynh là người khí tiết, một lòng một dạ hướng về triều đình. Nhà vua đã ban chiếu: “Đại Việt tuy là nước nhỏ, nhưng từ thuở ông cha mở cõi, các bậc tiền nhân không bao giờ chịu khuất trước kẻ thù. Nay nhà Tống đem quân sang cướp nước ta. Thuận theo ý trời, ta và muôn dân cùng nhau giữ nước. Một thước núi, một tấc sông của cha ông cũng không để lọt vào tay giặc”. Ta nghe nói quân của bộ tộc ngừng giao chiến. Mong đại huynh minh xét cho thấu đáo.
Tộc trưởng Nông Văn Nghinh bình thản:
- Ta không làm phản, chỉ là tạm lui binh bảo toàn binh lực…! Quân Tống bày trò li gián, một số kẻ bán đứng Đại Việt, ngả theo Tống mưu hưởng lợi lộc. Ta giảm sức cự chiến, cho chúng vào chiến lũy. Huynh sẽ sớm rõ nguồn cơn.
Từ lối nhỏ phía xa, một tốp lính cầm cờ Đại Việt phi ngựa về nơi đóng trại, kế theo là nhị tổng quản đội binh cơ mật. Người lính đi đầu nhảy xuống ngựa:
- Bẩm đại nhân, Nông Văn Tốn lộ mặt Tống gian, dẫn lính đoạt kho lương. Đội binh cơ mật đã ra tay.
Một người cởi trần, tay bị trói quặt ra sau nằm vắt mình trên lưng ngựa. Khi bị quẳng xuống đất, hắn quỳ mọp dưới chân tộc trưởng gào khóc:
- Đại nhân… tha mạng, cứu…con…
Nông Văn Nghinh dửng dưng:
- Ngươi là ai?
- Tiện nhân là Nông Văn Tốn. Đại nhân giao phụ quản quân lương.
- Quân lương của ta đâu?
- Tiện nhân tội muôn chết. Tiện nhân...
Vẻ mặt sắc lạnh, Nông Văn Nghinh ra lệnh tập trung quân sĩ. Nhìn một lượt khắp hàng quân, ông trịnh trọng mời nhị quản đội binh cơ mật nêu cáo trạng. Tất cả mọi người ngỡ ngàng khi biết đi chiến Tống, Tốn đã nhận vàng bạc và bán mình cho quỷ dữ. Quân Tống cần lương thảo, Tốn móc nối để chúng đánh chiếm số quân lương triều đình chu cấp. Mọi hành tung của Tốn không qua được mắt tộc trưởng và đội binh cơ mật. Bọn lính chiếm kho quân lương chưa kịp chuyển đi đã bị tiêu diệt. Tên chỉ huy bọn lính đó bị bắt sống. Căm phẫn trước kẻ làm phản, quân sĩ của tộc trưởng gay gắt đòi nghiêm trị.
Nông Văn Nghinh nghiêm mặt:
- Tội phản phúc trời không dung thứ. Quốc pháp xử chết không toàn thây. Nay vì ân nghĩa dòng tộc và mối bang giao, ta tha tội chết, trao trả Tốn và tên chỉ huy cho Tống.
Một người nhanh nhảu:
- Hắn không phải lính Tống, hà cớ gì đại nhân giả Tống?
- Chẳng phải hắn làm phản và nhận bổng lộc của giặc đó sao? Giải chúng tới cổng binh trại Tống, giả thêm hai con ngựa. - Đội binh cơ mật vừa dẫn giải đi khuất, Tộc trưởng Nông Văn Nghinh trầm giọng: - Ta không muốn thanh kiếm của dòng tộc, lại vấy máu dòng tộc ta.
Chứng kiến xử lý vụ án, Hoàng Minh Hạ không khỏi thán phục. Nếu động thủ Nghinh sẽ mang tiếng là ác nhân. Còn khi được trao giả, chắc chắn quân Tống sẽ không bỏ qua việc binh lính bị hạ sát, riêng chỉ huy và kẻ dẫn mối lại được tha bổng…
*
Mùa đông xứ núi, các đợt gió mùa đông bắc ào ạt tràn về, hết mưa phùn gió bấc lại băng giá, mưa tuyết. Phòng tuyến nơi đỉnh gió này như càng lạnh giá hơn. Buổi sáng đất trời trắng xóa không còn thấy màu của núi non cây cỏ. Ngoài lo giữ ấm cho quân sĩ, Hoàng Minh Hạ còn nhắc quấn chăn sui cho ngựa, che chắn kỹ nơi ở tránh luồng gió rét buốt thổi ràn rạt.
Sau nhiều ngày ứng chiến, quân của bộ tộc và các đội binh cơ động chịu nhiều tổn thất. Mặc dầu vậy các tộc trưởng vẫn cho binh lính sử dụng thuật chiến kỳ binh, bám từng chặng hành binh của quân Tống chặn đánh.
Một nhóm quân sĩ vừa từ chiến địa trở về, quần áo ướt rượt hơ tay, hong người bên bếp lửa hồng rực. Chừng đỡ cóng, một binh sĩ lấy cây tính tẩu tấu lên mấy khúc nhạc. Nhiều binh sĩ xúm lại chăm chú nghe, người lính vừa chơi đàn vừa hát:
Điếp căn slíp vằn tàng nhằng xẩư.
Bấu điếp căn rườn tẩư rườn nưa tó nhằng quây
Điếp căn nặm tó xâng bấu láng
Bấu điếp căn nặm to áng nhằng lây…
Một người lính triều đình hỏi:
- Mày hát tiếng bên khê, động hử?
- Tiếng người Tày tao! Đây là then cổ. Đoạn “Khửn khau khắc khau cai” trong Khảm hải. Ừ thôi, tao hát tiếng người xuôi:
Yêu nhau mười ngày đường thấy gần
Không yêu nhau nhà trên nhà dưới vẫn còn xa.
Yêu nhau nước trong sàng không sánh
Không yêu nhau nước trong chậu còn trôi…
Những người lính lặng đi trong nỗi nhớ. Làng bản quê nhà và bao người thân của họ như hiện lên trong tiếng tính và câu then nồng nã. Trong số quân sĩ trẻ đang có mặt nơi đây, nhiều người chưa có vợ, nhưng hầu như ai cũng có giọt mắt đợi lúng liếng mùa quả còn bay. Nỗi chín thương mười nhớ cồn lên giăng mắc như tơ nhện. Cuộc chiến ngày một khốc liệt, họ sẽ lao vào trận chiến một cách dũng mãnh, đập tan lũ giặc ngoại bang để sông núi yên hàn, cho tiếng tính, câu then nói lời chồng vợ.
Tộc trưởng Hoàng Minh Hạ chăm chú nghe, hồi lâu ông từ tốn:
- Sơn hà nguy biến, các huynh đệ mang thân cứu nước. Máu của huynh đệ làm dạng danh dòng tộc và con dân trăm họ. Bách tính muôn đời ghi ân, truyền đời báo đáp...
*
Chiều muộn, làn khói lam từ bản xa bay lên đan trong màu mây dần tím rịm. Nhìn khói, Hoàng Minh Hạ chợt nhớ nhà se thắt. Giờ này chắc vợ con ông cũng đang nổi lửa. Từ ngày đem quân gia nhập quân đội triều đình, ông chưa một lần về thăm quê. Những lần được các tướng quân cử đi thị sát thực địa, ông cũng có ý định vòng về bản. Tuy nhiên, các binh sĩ đưới quyền chưa ai được về thăm gia đình, ông không cho phép mình có đặc ân khác.
Buộc ngựa và kiểm tra dãy chuồng cẩn thận, Hoàng Minh Hạ thong thả về chiến lũy. Bên gốc duối cổ thụ, tiếng tính tẩu bập bùng ngân vang. Tiếng tính, lời then từng ngấm vào máu thịt trong những năm tháng trên bản quê hương. Ông như thấy trái tim mình rung lên trong lời người xưa vọng về từ Khảm hải:
Điếp căn tồng co xông slí quý
Bấu điếp căn tồng pỏng pí pây đai
Mì slim cái cấu mây nhằng đảy
Bấu mì slim cái cấu mạy tắc chang…”.
Nhiều lần ôm tính tẩu, Hoàng Minh Hạ cũng cất lên những lời then ấy. Lời then như tiếng lòng dành riêng cho người thương. Lúc bên quân sĩ ông hát bằng cả tiếng người xuôi:
“Yêu nhau như cây hành nên bốn mùa
Không yêu nhau như người dưng đi qua
Có lòng thì bắc cầu sợi chỉ còn bền
Không được lòng cây cầu gỗ gẫy đôi...
Tiếng tính, lời then nhẹ như gió, bập bềnh như mây bay. Trong ánh mắt của những người lính, ông nhận về lòng lấp lánh màu nắng lên.
Buổi tối thay vì ôn luyện bài tập đột kích, Tộc trưởng Hoàng Minh Hạ cho binh sĩ đốt lửa thắp lời then. Chiến hào nơi đỉnh gió này không thể diễn xướng múa chầu, múa bát. Mọi người chuyền tay nhau cây tính tẩu và hào hứng hát. Dù mang trên mình binh phục Đại Việt, binh sĩ của ông cũng vẫn là những người con của miền quê núi. Một khi họ giữ được trong mình sức sống của nguồn cội, họ sẽ có sức mạnh tiêu diệt mọi kẻ thù. Ngọn lửa hồng rực nhảy nhót lan tỏa hơi nóng làm bầu không khí trên chiến tuyến thật ấm áp.
Muốn tiếp thêm khí phách cho những con người quả cảm của dòng tộc, hát xong những câu then tha thiết, ông nói:
- Sức tiến công của quân Tống đang mạnh. Vận nước trước nguy nan, chủ soái đã ra lời kêu gọi muôn dân chiến đấu, biến mỗi bản ấp thành một chiến địa. Ta cần bình tĩnh ứng phó, dứt khoát không để chúng nghênh ngang như chốn không người.
Một người lính mã thám vội vã phi ngựa tới:
- Bẩm đại nhân, quân tiếp viện Tống vượt qua Tài Hồ Sìn, ước tám, chín nghìn tên. Đội cơ binh ném đá, bắn cung tên như mưa, chúng vẫn thúc ngựa xông tới. Một toán quân bộ cắt rừng theo đường mòn qua núi Phia Sliềng cách đây khoảng vài dặm.
Hoàng Minh Hạ nhìn trời:
- Trời tối, quân Tống sẽ không dám manh động tiến lên đèo, có thể chúng dựng lều trại bên kia núi. Ngươi bám chặt đường hành binh của chúng, có gì cấp báo ngay.
Quay sang binh lính, ông hạ lệnh:
- Chuẩn bị các mũi tên mang lửa.
Quan đốc trận giao thẻ trận cho người lính mã thám:
- Quân của Tộc trưởng Nông Văn Nghinh chặn địch ở núi Phja Sliềng.
Màn đêm buông phủ khắp rừng núi. Những đốm lửa từ các ống tre nứa nổ trong binh trại giặc bay lên như ma chơi. Suốt ngày trèo đèo lội suối, lại liên tục phải chống trả các trận tập kích của quân Đại Việt, lính Tống mỏi mệt, nhiều tên nằm vạ vật, hoặc đứng ngồi ngả ngớn bên đống lửa. Ở góc binh trại, số lính bị thương được băng bó, mổ lấy cung tên dính trên người gào thét đau đớn.
Không mạo hiểm cho quân sĩ lọt vào binh trại, áng vừa tầm cung, Tộc Trưởng Hoàng Minh Hạ ra lệnh chuẩn bị các mũi tên mang giẻ tẩm dầu thông.
- Lửa.
- Lên cung.
- Lửa xong.
- Bắn.
Những mũi tên đỏ rực vun vút lao vào binh trại giặc. Thoáng chốc các lều trại, xe lương thảo, xe chở cỏ rơm cho ngựa bén lửa bốc cháy ngùn ngụt. Quân lính Tống lao ra la hét loạn xạ. Hàng loạt mũi tên mang lửa liên tiếp bay. Binh lính và ngựa giẫm đạp nhau bỏ chạy. Khoảng trời đêm đỏ rực…
Tộc trưởng Nông Văn Nghinh chia quân sĩ làm hai cánh áp sát chân núi Phja Sliềng. Nhiều tên lính Tống xúm quanh các đống lửa bập bùng cháy. Không để vuột cơ hội, ông ra lệnh bắn tên. Thoáng chốc quân Tống náo loạn. Tiếng gào khóc như thể bốc lên từ âm phủ.
![]() |
| Minh họa: Dương Văn Chung |
Giữa đám lính khiếp đảm, một tên phất cờ trắng bước ra, tiếng Việt lơ lớ. Thì ra bọn này vừa giết tên quan tổng quản để xin hàng quân Đại Việt. Chúng đang đói rét, không thiết chiến trận, xin hàng để được sống.
Tình huống ngoài định liệu làm Tộc trưởng Nông Văn Nghinh bối rối. Cuộc chiến khốc liệt lấy đâu nhà giam, lấy đâu người canh giữ? Lương thảo ông còn cân nhắc khẩu phần ăn cho quân sĩ, nuôi sao nổi lũ đê tiện này? Ông nói với lính cận vệ:
- Đại Việt không giết hàng binh, thu khí giới, đuổi chúng về nước.
Người lính đến gần tên biết tiếng Việt, cao giọng:
- Nói với cả bọn: Đại quan ta cho hàng, bắt quay về nước, nhưng mỗi thằng phải chặt một tay.
Sau lời dịch, đám lính van lạy, đồng loạt khóc than thảm thiết. Giả vờ xin ý kiến tộc trưởng một lát, người lính phẩy tay:
- Nể tình nghĩa bang giao, đại quan ta miễn hình phạt. Nhớ giang sơn này của Đại Việt. Biến!
*
Đạo quân tiên phong và cánh trung quân của nhà Tống được trang bị áo giáp sắt. Mũi tên của ta chỉ gây sát thương, không thể tiêu diệt. Trước tình thế nguy cấp, quân đội Đại Việt được phép tẩm thuốc độc vào mũi tên.
Bày trận xong, Tộc trưởng Hoàng Minh Hạ thong thả ngắm nhìn thung lũng trước mặt. Tiết xuân đã đến trời ấm hơn, màu xanh của cỏ cây bật lên, trải dài tít tắp. Những khóm hoa đào rung rinh cánh hồng giữa muôn chồi nõn. Ông chợt buồn se thắt khi ánh mắt chạm các thửa ruộng, đồi nương ngả màu nâu sậm. Lẽ ra mùa này các mầm ngô đã sắp phủ kín…
- Đại nhân. Quân Tống đang tiến vào. Đông quá! - Từ chòi cảnh giới, người lính cấp báo.
Có lẽ đây là đội kỵ binh thiện chiến, bởi chúng được trang bị đầy đủ binh khí, khiên, giáp. Ông ra lệnh quân sĩ về vị trí.
- Mọi mũi tên đều đã tẩm độc. Ta nhằm đùi bắn, trượt đùi người trúng ngựa.
Chờ cho bọn lính lọt tầm cung tên, Hoàng Minh Hạ đứng bật dậy, lên cung:
- Bắn.
Làn mũi tên dày đặc bay vào đội hình địch. Nhiều con ngựa tung vó, hí lên thảm thiết rồi đổ vật. Chẳng mấy chốc đội hình kỵ binh rối loạn, chen chúc cùng đám quân bộ binh. Nhiều tên lính hoảng loạn, chưa thể lắp cung nỏ đã bị triệt hạ. Không để chúng kịp trở tay, ông tuốt gươm, thét lớn:
- Giết!
Quân sĩ dũng mãnh lao tới vung gươm. Những tia chớp sáng lòa. Tiếng thép va thép đanh lạnh. Tiếng kêu khóc cất lên thảm thiết rồi tắt lịm.
Cuộc chiến kết thúc, đoạn dốc lên đỉnh đèo ngổn ngang xác giặc. Quan sát chiến địa, Hoàng Minh Hạ sa sẩm mặt khi nhiều binh sĩ của ông cũng đã tử trận. Có người thanh gươm trên tay cắm lút trên người tên lính Tống, nhưng bị thanh long đao xuyên qua ngực.
Một khuôn mặt non choẹt mặc áo giáp sắt, mũi tên cắm trên bả vai túm chân ông cầu xin bằng tiếng Việt lơ lớ:
- Cứu con… cứu
Hoàng Minh Hạ ráo hoảnh:
- Ta rất muốn cứu ngươi, nhưng các mũi tên đều đã tẩm thuốc độc.
*
Từ phòng tuyến cheo leo trên đỉnh gió, tiếng tính tẩu dập dìu, ngân lên cùng lời then ngọt ngào trong trẻo. Giữa nhấp nhánh màu nắng non và ngời ngợi sắc xanh của núi rừng, những thanh âm tạo nên không gian đầy huyền cảm:
Noọng ơi
Mùa xuân về khoe sắc đưa hương
Đôi mình soi gương bên bờ suối
Cảnh núi rừng hùng vĩ đẹp thay
Vui ngày hội mùa xuân quê noọng
Noọng ớ ới ơi….
Tộc trưởng Hoàng Minh Hạ lặng lẽ lên ngựa vòng ra bờ suối Nà Đeng. Mùa này nước cạn, dòng suối như người đàn bà ăn dở tràn qua doi cát, ghềnh đá. Phía tít tắp đầu nguồn con nước là làng bản của ông. Thuở bé ông vẫn hái từng chùm hoa dẻ thả vào dòng nước và nghĩ những cánh hoa ấy sẽ trôi tới tận kinh thành, nơi có những chiến binh cầm gươm đao được tôi rèn từ nhiều thế hệ. Ông không nghĩ có ngày chính mình cầm quân của dòng tộc giữ gìn đất đai sông núi này. Có thể trận chiến sắp tới sẽ rất ác liệt, nhưng chắc chắn quân điếu phạt sẽ phải trả giá cho hành động mù quáng của chúng.









Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin