Hạt gạo quê hương thơm mùi đất mẹ

Trần Văn Toản 16:28, 16/07/2026

Việt Nam là đất nước có nền văn minh lúa nước. Những con sông trên dải đất chữ S mến yêu này đã đắp bồi phù sa cho cây trái bốn mùa xanh tươi, chín ngọt. Cây lúa Việt Nam, hạt gạo Việt Nam là nơi chứa đựng, kết tinh hồn cốt dân tộc. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, bao khói lửa binh đao, bao bể dâu đoạn trường, hạt gạo quê hương vẫn trắng trong, ngát thơm mùi đất mẹ.

Cánh đồng lúa luôn là hình ảnh thân thuộc của người Việt.

Cánh đồng, con trâu, cái cày, cái cuốc, hạt lúa, củ khoai… là những hình ảnh thân thuộc đến nao lòng trong bức tranh làng quê Việt. Để có hạt gạo thơm ngon người nông dân phải đổ biết bao giọt mồ hôi, công sức. Vì thế, kết tinh trong từng hạt thóc là sức mạnh cơ bắp và cả tâm thức văn hóa tinh thần của người Việt. Lúa gạo là biểu tượng của sự sống, của ấm no, hạnh phúc. Gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước, vì thế, Hạt gạo phải một nắng hai sương, xay, giã, giần, sàng… biểu tượng cho sự cần cù, chịu thương, chịu khó và tình yêu lao động, khát vọng dựng xây quê hương đất nước muôn đời của con Lạc cháu Hồng.

 

Người Việt Nam bao đời đều có câu nói cửa miệng rằng "Ai thương không bằng cơm thương". Cơm là món ăn chính, không thể thiếu trong đời sống hằng ngày của bữa ăn Việt. Một, hai ngày ăn món gì thế cơm là cảm thấy thiêu thiếu, cảm thấy thèm rồi. Có khi ăn sơn hào hải vị vẫn không bằng bát cơm thơm mùi quê hương của mẹ nấu. Ăn gì mau ớn, chứ ăn cơm không ớn được.

Từ hạt gạo mà chế biến ra các món ăn khác như bánh chưng, bánh tét, bột gạo, phở, bún, bánh cuốn… Và cũng từ hạt gạo trắng thơm mà chế biến ra rượu gạo tinh túy hồn cốt đất trời. Gạo có mặt trong đời sống vật chất hằng ngày; gạo có mặt trong các lễ hội văn hóa gắn với tập tục thờ cúng, tín ngưỡng dân gian và đi vào đời sống tâm linh dân tộc. Lễ hội cầu mùa; Lễ xuống đồng; Lễ mừng cơm mới… đều gắn liền và tôn vinh lúa gạo. Hạt gạo lại có mặt trong những mâm cúng nhà, cúng đất, cúng ngày Tết… Cụm từ cơm ăn áo mặc hay cơm no, áo ấm cho thấy vai trò trung tâm của hạt gạo, những giá trị thiết thân muôn đời.

Tôi cũng rất tâm đắc khi người Việt ví von hạt gạo là hạt ngọc trời ban. Nói như thế là có ý đề cao, tôn vinh lúa, gạo; khẳng định giá trị và vẻ đẹp cao quý, tinh túy của hạt gạo. Qua từng hạt lúa, hạt gạo, qua mỗi bát cơm trắng dẻo thơm ta như cảm được điệu hồn dân tộc, kết tinh trong đó sức mạnh lao động chân tay và cả trí tuệ và tâm hồn Việt Nam. Đó chính là hồn thiêng sông núi của một nền văn minh lúa nước rực rỡ, bền vững qua bao thăng trầm lịch sử. Mãi mãi hạt lúa, hạt gạo biểu tượng cho vẻ đẹp văn hóa truyền thống gắn với hiện đại làm nên mạch nguồn chảy trong huyết quản để góp phần hun đúc nên bản sắc, hào khí, cốt cách của dân tộc Việt Nam.

Tuổi thơ tôi đi qua từ lâu và đôi chân tôi cũng đã ngược xuôi, hối hả trên đường đời, qua bao miền đất lạ, nhưng không hiểu sao hằn sâu trong ký ức của tôi vẫn là bóng dáng cha dắt trâu ra đồng cày ruộng; là bóng dáng mẹ gập mình trên cánh đồng làng cấy lúa. Dù hôm nay quê tôi đã thay con trâu bằng chiếc máy cày, thay cái liềm cái vằng bằng máy gặt liên hợp ngay giữa cánh đồng để lúa ra đường lúa, rơm ra đường rơm; ấy vậy mà sâu thẳm trong tôi vẫn là bóng hình từng tốp người nhấp nhô gặt lúa và kẽo kẹt gánh lúa về. Tôi nhớ mãi những tháng ngày khi tôi lên 9 lên 10. Nhà tôi có nuôi 2 con trâu. Lúa gặt về, người dân quê tôi xếp thành từng vòng và dắt trâu lên cho đi vòng quanh, giẫm lên lúa để hạt ra khỏi thân cây. Nhà nào nhờ trâu đạp lúa thì trẻ chăn con trâu đó đều được mời ăn cơm. Hình ảnh một người đứng giữa, hai ba con trâu đi quanh vòng tròn lúa thật sự làm tôi nhớ mãi.

Thú thật, dù sống trong không gian phố phường đông vui, sang trọng, tôi vẫn cứ thèm cảm giác thả đôi chân trần chạy trên cánh đồng vừa gặt lúa. Đi đâu trở về, cũng thấy người nông dân quê mình mộc mạc, chân chất, cần cù nhẫn nại như cây lúa qua bao mùa mưa nắng trên mảnh đất quê hương.

Sinh ra từ làng, hơn ai hết, tôi thấm thía hết nỗi cơ cực mà người nông dân làm ra hạt lúa. Đúng như bài ca dao năm xưa nhắn nhủ: Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần. Ngày nay, máy móc hiện đại đã giải phóng được nhiều sức lao động của bà con, song khách quan mà nói, vẫn còn đó bao vất vả của công việc nhà nông. Từ gieo sạ đến chăm bón và chờ ngày thu hoạch, người nông dân thấp thỏm lo âu. Năm nào được mùa lúa thì nét mặt hớn hở; năm nào mưa không thuận, gió không hòa thì chỉ biết than trời, than đất. Hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu, công máy cày, máy gặt, các loại thuế… đều được tính từ lúa. Gặt về, phơi khô khén, nông dân phải bán lúa để có tiền trả các khoản. Thời buổi, giá cả cái gì cũng cao, nên năm nào lúa được mùa còn dư dôi dăm ba tạ thóc cất cho mùa giáp hạt; năm nào mất mùa thì chỉ biết lấy công làm lãi.

Nước ta nằm trọn trong vùng nhiệt đới gió mùa, vì thế mưa lũ là chuyện thường tình. Mưa lũ về đúng mùa, đúng quy luật tự nhiên thì có ý nghĩa điều tiết môi trường sinh thái. Lũ lụt về, mang theo bao lớp phù sa màu mỡ, đắp bồi ruộng vườn cho cây lúa mùa sau xanh tốt, trĩu bông. Vì thế, nhà thơ Trần Đăng Khoa trong Hạt gạo làng ta đã nói rất đúng: Hạt gạo làng ta/ Có vị phù sa/ Của sông Kinh Thầy/ Có hương sen thơm / Trong hồ nước đầy/ Có lời mẹ hát/ Ngọt bùi đắng cay... Theo kinh nghiệm của người nông dân, năm nào có lũ, năm đó được mùa. Những dòng sông trên dải đất chữ S thân yêu này ngoài vai trò tạo nên cảnh quan cho quê hương xứ sở còn có chức năng tưới tiêu. Những cánh đồng lúa ven sông mơn mởn thì con gái, vàng ươm vào mùa thu hoạch, mang vị dẻo thơm, ngọt bùi trong từng hạt gạo, nồi cơm.

Cuộc sống đổi thay, phát triển, biết bao thức ăn nước uống đắt tiền trong những nhà hàng sang trọng, vậy mà lòng vẫn cứ chênh chao nỗi nhớ về những bữa cơm đạm bạc của mẹ. Nhớ da diết mùi cơm lúa mới tỏa ra nơi khói bếp lam chiều. Tôi nhớ ngày xưa, mỗi lần đi học về, được mẹ giao cho nhiệm vụ ngồi đun bếp. Nấu cơm bằng rơm rạ, chao ôi thơm ngon phải biết. Thích nhất là được ăn lớp cháy vàng giòn giòn cuối nồi. Nấu cơm bằng điện làm gì có cháy. Chỉ nhớ thôi mà cảm giác đã muốn hít hà!

Từ trong sâu thẳm, tôi vẫn cứ cất giữ bao kỷ niệm đẹp về những tháng ngày rong ruổi trên cánh đồng làng; về những đêm trăng chơi các trò chơi dân gian bên đống rơm đầu mùa; còn vẹn nguyên cảm giác dễ chịu, khoan thai khi hít thật sâu mùi thơm lúa mới, mùi nồi cơm nếp trong những chái bếp nhà tranh.

Trên con đường giao lưu, hội nhập và phát triển, lúa gạo Việt Nam vẫn luôn mang hồn dân tộc, muôn đời là di sản quốc gia, mang tâm hồn Việt trên hành trình đi tới tương lai. Kết nối truyền thống với hiện đại, tôi luôn vững tin về tấm lòng thủy chung, tình yêu sâu nặng của người nông dân Việt dành cho cây lúa quê hương. Hạt gạo Việt Nam mang tâm hồn dân tộc mãi lấp lánh giá trị nhân văn nơi biển lớn thị trường nhân loại.