Quê tôi là một bản làng miền núi heo hút. Thời bao cấp, bố mẹ tôi làm không đủ gạo, ngô để chị em tôi no bụng chứ nói gì những thứ cao sang. Nhưng cái vùng đất khỉ ho cò gáy ấy của quê tôi lại có một loài cây quý hiếm. Đó là cây chè shan tuyết, hồi ấy chúng tôi chỉ quen gọi là chè rừng.
![]() |
Rất nhiều đời, cả vùng bản làng tôi không ai trồng chè, mà lạ làm sao trong rừng già vẫn có rất nhiều cây chè cổ thụ, có chỗ mọc kín cả một vùng rộng lớn. Những thân cây chè già mốc thếch to bằng cột nhà, tầm gửi leo xanh um.
Nói một chút về tầm gửi chè. Người quê tôi vẫn coi tầm gửi chè là một loại thuốc quý đặc trị sốt rét ác tính. Ở nơi rừng thiêng nước độc, xa bệnh viện, các cụ già quê tôi cả đời không biết đến viên thuốc là gì, khi mắc bệnh chỉ trông vào các loại cây trong rừng. Năm ấy bố tôi bị trận sốt thập tử nhất sinh. May sao có bà người Mán Sơn đầu tìm về bản tôi mua bạc trắng cho con trai cưới vợ, mách với mẹ, chỉ cần vài lá tầm gửi cây chè đun cho người bệnh uống là khỏi, không bao giờ tái phát. Từ đó, theo chỉ dẫn của bố tôi, mọi người trong bản ai cũng biết sự hiệu nghiệm chữa sốt rét của tầm gửi cây chè.
Khi lớn lên chút ít, vào mỗi dịp giáp Tết, tôi thường được bố giao cho nhiệm vụ lên núi hái lá chè rừng để sao tẩm vài lạng chè búp. Tuy là con gái nhưng tôi là đứa táo tợn, thích mạo hiểm nên luôn hứng thú đón nhận nhiệm vụ ấy.
Sáng đi học về, ăn cơm trưa xong, tôi vơ vội cái tay nải hăm hở vào rừng. Với lũ bạn cùng tuổi ngày ấy, chỉ có tôi mới dám vào rừng một mình tìm hái chè.
Trời cuối đông, cái lạnh se sắt, lá rừng ngả màu vàng úa chỉ đợi cơn gió thổi qua là rào rào rơi kín mặt đất. Tôi phăm phăm bước trên thảm lá, có lúc giẫm phải rắn, rết ẩn dưới đám lá mục nhưng chưa bao giờ cái nanh nhọn của chúng chạm vào được chân tôi, nhưng quả thật cũng nhiều phen hú vía. Càng vào sâu, rừng càng âm u bí hiểm. Là một đứa trẻ đã quen với rừng từ thuở nhỏ xíu, nhưng nhiều khi tôi cũng phải tự trấn an mới có thể vượt qua những đoạn đường hiểm trở để đến với những cây chè rừng khổng lồ.
Những cây chè rừng cao dễ đến cả chục mét. Tôi chặt mấy cây vầu, tìm những sợi dây rừng buộc vào thân chè, tạo ra từng bậc để lao lên. Cứ trèo được một, hai bậc lại buộc bậc tiếp theo, cứ thế leo lên. Đây là kinh nghiệm trèo cây hái quả của người miền núi mà đứa trẻ ma lanh như tôi mới học được.
Trèo lên cây, nhìn ra xung quanh, những búp chè tươi trông thật thích mắt. Cành chè dẻo mềm ít sợ gãy, tôi chỉ việc chặt một chạc cây làm móc kéo từng cành lại là có thể hái được những búp chè rừng xanh nõn. Cái thú trèo lên cây cao thật là khoái, tha hồ phóng tầm mắt ra cánh rừng xa, thoải mái nghe âm thanh hỗn độn của gió, của cành lá rì rào, của muôn vàn loài chim muông thánh thót. Và quan trọng nhất là cảm giác cô độc, một mình treo lơ lửng trên không trung với biết bao sự tưởng tượng hòa cùng những âm thanh kỳ bí trong hoang vắng của núi rừng.
Tôi mê mải hái lượm những búp chè non mỡn bỏ vào đầy chật tay nải. Tận lúc trời chuyển về cuối chiều, rừng bắt đầu sẩm lại, tiếng muôn loài chim hối hả gọi nhau về tổ ấm sau một ngày kiếm ăn tôi mới chịu tụt xuống, ra về…
Ngày ấy, chè chỉ duy nhất cách sao tẩm thủ công. Mẹ tôi đổ búp chè vào chảo, ốp trong lửa, khi đủ độ chín trút ra mẹt vò bằng tay, chè nguội lại tiếp tục cho vào chảo ốp tiếp. Cứ làm đi làm lại như thế cho đến khi búp chè rút hết nước, khô, xoăn dần lại, trông như những cái móc câu, mùi hương thoảng bay khắp mấy gian nhà thì mẹ chuyển sang giai đoạn cuối cùng là lấy hương. Những lúc mẹ sao chè, tôi thường hay ngồi bên cạnh quan sát tỉ mỉ từng động tác mềm mại rất điêu luyện cùng những giọt mồ hôi cứ lớn dần trên vầng trán sạm nắng của mẹ. Mẹ thường dạy tôi: "Sao chè phải kiên trì để búp chè dần khô, ngả thành màu tro, rồi phải để chè chín đến độ hương chè lặn vào trong ngón tay, chè mới có được vị ngọt chát lưu trong cổ họng". Ngày ấy tôi làm sao hiểu được những cảm nhận tinh tế ấy của mẹ.
Những ngày trước Tết, bố tôi đã chuẩn bị vài ống nứa khô được cắt gọt phẳng phiu cất lên gác bếp để làm đồ đựng chè. Cách bảo quản như thế có lẽ chỉ người dân miền núi quê tôi mới biết. Chè bỏ trong ống nứa, nút lá chuối khô hầu như cả năm vẫn nguyên vị, nguyên hương.
Người miền núi quê tôi quanh năm lam lũ, chỉ mấy ngày Tết mới được thảnh thơi. Vào mùng hai Tết nhà tôi đông vui nhất. Bọn trẻ con í ới gọi nhau đi đánh yến, tung còn. Mấy bà có tuổi rủ nhau quây quần bên mẹt bánh quanh bếp lửa nhà sàn, nói đủ chuyện trâu bò, lợn gà, mùa vụ. Còn mấy ông không thú gì hơn là trải manh chiếu giữa nhà, ngồi quanh ấm chè với bịch thuốc vê nói cười hể hả với những câu chuyện nhà nông như không bao giờ hết. Còn tôi, dù hứng thú với trò chơi nhảy dây, trồng nụ trồng hoa nhưng không bao giờ dám quên nhiệm vụ đun cho bố ấm nước pha chè.
Cái lạnh mùa đông được thưởng thức chè rừng bên mấy ông bạn trong bản là cái thú truyền đời của ông bà, bố mẹ tôi. Dường như những lúc ấy họ tạm quên đi gánh nặng áo cơm, tạm quên đi những giọt mồ hôi vất vả nhọc nhằn. Nhìn bố tôi và mấy ông ủ chén chè trong tay xuýt xoa khen mà tôi thấy lòng vui khôn tả, cái vui của một đứa trẻ dám băng mình vào rừng một mình hái búp chè cho bố mẹ, góp phần vào việc làm cho cuộc đời tươi đẹp hơn. Niềm vui nhỏ bé nhưng sao tôi thấy lớn lao vô kể.
Nhiều năm đã trôi qua, tôi dần lớn lên, từ biệt quê đi công tác. Quê tôi cũng đổi thay nhiều. Những con đường bê tông đã dần len lỏi vào những lối đường mòn đầy rắn rết xưa, điện đã về thôn bản, rừng bớt âm u. Bố mẹ tôi đã vĩnh viễn về miền mây trắng.
Ngày về hưu, có phải vì những ký ức xưa mà tôi bỗng nẩy ra ý định trồng và chế biến chè. Bây giờ các thiết bị làm chè đã nhiều tiến bộ vượt bậc, nhưng không hiểu sao tôi vẫn thích làm chè theo lối thủ công. Hình ảnh mẹ ngồi sao chè ngày ấy cứ hiện lên thao thức trong lòng tôi hơn bao giờ hết. Dáng mẹ xiêu xiêu trong ánh lửa bập bùng, bàn tay mềm mại như nâng từng làn hương chè mỏng manh thoảng bay trong đêm.
Tôi làm chè không phải vì kiếm tiền mà vì những hoài niệm không thể nguôi ngoai. Đã gần nửa thế kỷ trôi qua mà tôi vẫn chưa quên cái cảm giác vừa vui vừa sợ khi treo người lơ lửng trên những cây chè cổ thụ cao vút giữa rừng già heo hút.
Bây giờ, cứ mỗi lần giáp Tết, tôi lại ra vườn hái chè rồi một mình bên bếp lửa sao chè trong nỗi nhớ thương da diết mẹ cha xưa.
Những ngày Tết, tôi kính cẩn đặt những gói chè do chính tay mình sao tẩm lên ban thờ. Trong không gian nhạt nhòa thương nhớ, tôi như thấy mùi hương chè rừng xưa lan tỏa, mùi hương đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi suốt cuộc đời.








Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin