Nụ cười của nắng

Truyện ngắn của Phan Thái 08:25, 14/08/2026

 

“Đừng tìm tao nữa! Đất nước mình tao nằm đâu cũng được. Tuổi chúng mày cần phải nghỉ ngơi” – Lời nói thoảng nhẹ như gần như xa. Làn mây trắng cuốn ông Hưng vào vòng sáng kỳ lạ. Trước mặt ông là Trần Vỹ Thịnh, người bạn chiến đấu thân thiết và đã anh dũng hy sinh trong cuộc tiến công Đài ra đa Phú Lâm. Gương mặt Thịnh ánh lên vẻ cương nghị, rắn rỏi trong bộ quân phục loang lổ vết máu. 
“Ôi mày đấy ư?” - Ông Hưng nhào tới định ôm bạn, Thịnh giơ tay ngăn ông lại: “Chúng ta chưa thể gặp nhau. Mày chả chôn tao rồi sao?”. “Tao chôn mày ở đây, nhưng dấu tích không còn, mày chỉ chỗ cho chúng tao đón. Tao không quên mày đâu, tin tao đi”. “Đồng đội, không tin nhau sao cùng nhau ra trận? Trong những thời khắc sinh tử, chúng ta không ngã lòng, đó là bởi niềm tin”. “Chúng tao đến dẫu muộn màng, nhưng nhất định phải tìm mày…”. 
Cổ họng ông đắng nghẹn, gắng gượng để không bật ra tiếng nấc. Trận đánh cuối cùng năm ấy, Đại đội trưởng Vũ Hà cũng hy sinh. Sau giải phóng đơn vị cơ động lên Tây Nguyên truy quét tàn quân FULRO, rồi vào trận biên giới Tây - Nam, hành quân ra biên giới phía Bắc. Đội quy tập hài cốt liệt sĩ theo sơ đồ chôn cất vẫn không thể tìm được tất cả những người hy sinh. Gần đây về thăm lại chiến trường, ông Hưng mới biết ngôi mộ Trần Vỹ Thịnh cũng chưa tìm thấy. 
“Gốc cây quéo mày chôn tao gãy đổ rồi. Tao ăn sương uống gió, đôi khi lạc cả lối về” - Thịnh đăm chiêu. Một làn gió mạnh chợt ùa tới, bóng Thịnh thoáng chốc tan loãng trong màu mây, vẳng lại lời rất nhẹ: “Tao đi đây!”. 
Ông Hưng bừng tỉnh, thất thần không rõ thực hay vừa trải qua cơn mộng mị. Ông và Trần Vỹ Thịnh là chiến sĩ Đoàn đặc công miền Đông Nam Bộ. Nhiệm vụ của đơn vị ông trước mùa xuân năm 1975 không phải là tiến công chiếm giữ, mà tập kích tiêu diệt sinh lực địch và rút về vị trí tập kết chuẩn bị cho những trận đánh tiếp theo. Đồng thời, điều nghiên các căn cứ địch báo cáo cấp trên lập phương án tác chiến và dẫn đường cho các đơn vị chủ lực tiến công. Những trận đánh “Bí mật, bất ngờ, luồn sâu đánh hiểm” là trí tuệ, cống hiến của bao nhiều người. Chiến công nào cũng có xương máu đồng đội. Nhiều trận chiến sĩ hy sinh, phân đội dùng dao găm đào huyệt chôn cất anh em, không mang được thi thể về căn cứ. Mỗi lần nhận nhiệm vụ đồng đội ông đều mang niềm tin tất thắng, không ngại vất vả hy sinh, vào trận với tinh thần quyết tử.

 

 


 Trời chan hòa nắng, ánh nắng lan qua những tán sầu riêng xanh ngát, trong vắt như pha lê. Ở góc vườn, ông Thống, người đại diện ban liên lạc truyền thống đơn vị và đội quy tập hài cốt liệt sĩ vẫn miệt mài làm việc. Thì ra ban nãy, thấy ông mặt tự dưng tím tái như bị say nắng, anh em đội quy tập đã đưa ông tới lùm cây này nghỉ. Họ bảo ông đi xe qua cả ngàn cây số, lại mấy ngày đêm hì hục đào cuốc, sức vóc thanh niên cũng không bền như thế.
- Các bác chưa tìm thấy mộ của ảnh sao? Em đã kêu mấy cậu trong thôn tới phụ - Chị chủ vườn cây tới bên cạnh ông Hưng, phe phẩy chiếc nón.
- Chưa chị ạ! Cậu ấy nằm cách gốc quéo độ hai mét, gốc quéo không còn, chúng tôi phải lần tìm trên sơ đồ tính theo bờ kênh.
- Gốc quéo - Chị chủ vườn trầm tư - Ông cụ em mua lại mấy công đất này. Em về làm dâu, bãi toàn cỏ dại không à! Mà phải rồi, lúc làm đất trồng sầu riêng, em thấy chỗ ni có những rễ cây te tua, hình như bom pháo rớt lủng gốc.
Chị chủ vườn xăng xái đi về đội quy tập, xem lại tấm sơ đồ và quả quyết ngôi mộ nằm cách hôm bổ nhát cuốc đầu tiên chỉ nửa mét. Mọi người đào hào tiến lên, nhưng vị trí mộ phải lùi lại. Và đúng như lời chị, một lúc sau những di vật đầu tiên đã được tìm thấy.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các đơn vị đặc công thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm và giữ các cây cầu cùng những căn cứ án ngữ cửa ngõ Sài Gòn. Tiến hành mở và bảo vệ cửa mở ở phía Bắc sân bay Tân Sơn Nhất. Tiến đánh và chiếm giữ nhiều mục tiêu quan trọng của địch…
Một trong những trận đánh khốc liệt trước ngày toàn thắng là tiến công căn cứ ra đa Phú Lâm, chọc thủng “mắt thần” của quân đội Sài Gòn, bảo vệ mũi tiến công của Đoàn 232 vào thành phố. Đài ra đa Phú Lâm là một trung tâm thông tin lớn và hiện đại nhất Châu Á với gần 800 nhân viên quân sự hoạt động. Quân đội Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn tự hào gọi căn cứ này là “mắt thần”. Phá hủy đài ra đa nhằm cắt đứt liên lạc, làm tê liệt hệ thống chỉ huy tác chiến của địch được Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho đặc công phối hợp với biệt động thực hiện. Mệnh lệnh cấp trên yêu cầu bằng mọi giá phải hoàn thành. 
Lực lượng tiến công căn cứ gồm một số bộ phận của 2 tiểu đoàn Đặc công miền Đông Nam Bộ phối hợp với Tiểu đoàn Biệt động 197 thuộc Biệt động Sài Gòn -– Gia Định. Mục tiêu này kẻ địch canh gác cẩn mật. Trinh sát thực địa, ông Hưng thấy địch bố trí hỏa lực và bộ binh dày đặc. Vòng ngoài chúng sử dụng xe tăng, xe bọc thép và các loại xe quân sự bị bắn hỏng làm hàng rào chung quanh. Từ cánh đồng trở vào chúng dựng hàng rào tôn cao 3m cùng nhiều lớp hàng rào dây thép gai, trên các lớp rào có cài nhiều mìn vướng nổ. Khu vực đầm sen, đề phòng đặc công nước tiếp cận chúng cũng lập 2 lớp rào bên dưới, ba lớp bên trên. Nếu tổ chức tiến công, có thể hy sinh hết cũng không thể chiếm giữ.
Trước khi bước vào trận chiến, 20 cán bộ chiến sĩ đảm nhận vai trò tiên phong được đơn vị làm lễ truy điệu sống. Nghe công bố danh sách, ông Hưng và Thịnh hội ý nhanh, kéo nhau gặp đại đội trưởng; “Đây là trận cuối cùng giải phóng miền Nam, xin đại đội trưởng…”. Không để Thịnh nói hết câu, đại đội trưởng đã gạt đi: “Tất cả chúng ta đều vào trận với tinh thần quyết tử. Các đồng chí không có tên, không đồng nghĩa chỉ trợ chiến, thậm chí còn là mũi chủ công…”. 
Sau lớp đất và dấu tích thời gian, những phần còn lại của Thịnh được phát hiện. Cùng hài cốt là nhiều di vật: đế giày bộ đội, bi đông, hộp tiếp đạn, khuy áo, thắt lưng và một số vật dụng sinh hoạt của người lính năm xưa. Đặc biệt, chiếc lược giũa từ xác máy bay Mỹ khắc dòng chữ “Trần Vỹ Thịnh - Bắc Thái”. Chiếc lược ấy khi đại đội luyện tập kỹ chiến thuật tiến công tại núi Voi, Thịnh đã cùng anh em tranh thủ làm. 
Đêm 17 rạng sáng 18/4/1975, một bộ phận bí mật khoét hàng rào đột nhập, lấy đèn tín hiệu trên cột thu phát sóng làm chuẩn để tiến công phá hủy các hệ thống thiết bị, máy móc. Đồng chí chính trị viên ở bên ngoài sẵn sàng bộc phá để bên trong nổ súng sẽ cho nổ để mở đường rút ra…
Tiếp cận khu trung tâm, quân ta dùng 3 khẩu B41, 4 khẩu B40 cùng AK, thủ pháo đồng loạt bắn hết các cơ số đạn vào mục tiêu. Lửa bùng lên, kho đạn địch nổ dữ dội. Mũi tấn công hướng đơn vị ông Hưng phá hủy một số trang thiết bị quan trọng của địch. Ở một số hướng khác, do địch chống trả quyết liệt, các chiến sĩ chưa vào sâu bên trong nhưng cũng phá hủy nhiều thiết bị, máy phát sóng của địch, làm tê liệt hoạt động của chúng.
Ngày 25/4 Ban Chỉ huy phổ biến mật lệnh tiến công của Bộ Tư lệnh chiến dịch, phân công mục tiêu cho các đơn vị và ra lệnh cho tiểu đoàn tiến công lần 2 vào Căn cứ ra đa Phú Lâm, chịu trách nhiệm mở cửa và giữ cửa mở từ 5 đến 7 ngày cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn. Phương châm tối mật được quán triệt trong chiến đấu là nếu ai bị thương nhẹ tiếp tục cầm súng chiến đấu, bị thương nặng tổ chức băng bó, người hy sinh để lại tuyến sau đến lấy, không vì lý do gì bố trí lực lượng chuyển thương binh, liệt sĩ ra để mất sức chiến đấu. Tất cả cán bộ chiến sĩ vào trận với khí thế “một ngày bằng ba mươi năm”. Lực lượng đặc công mặc quân phục, không cần ngụy trang. Đạn mỗi người chuẩn bị đủ hai cơ số. Lá cờ giải phóng mang theo lắp sẵn vào cán.
Tối 28/4/1975 Tiểu đoàn 21 Trinh sát Đặc công áp sát mục tiêu, đang cắt hàng rào dây thép gai thì bị địch phát hiện, nã đạn như mưa làm 7 chiến sĩ hy sinh. Trần Vỹ Thịnh bật dậy xả súng AK yểm trợ đồng đội đặt bộc phá mở cửa.
Quả bộc phá tạo sức công phá mạnh, phá bung cánh cửa sắt và một phần bức tường hai bên. Tuy nhiên, hệ thống phòng ngự của địch quá kiên cố, lại có hào nước, nhiều lớp rào thép gai, ta không thể cường tập. Quân ta buộc phải đóng chốt tại cửa mở, gọi lực lượng chi viện nã pháo vào bên trong và sử dụng hỏa lực B41, B40 nhắm thẳng mục tiêu khu trung tâm đài ra đa nhả đạn. Suốt 1 ngày đêm liên tục tiến công ta vẫn chưa thể chiếm được. 
Ban Chỉ huy quyết định bố trí một lực lượng bao vây cô lập, còn lại rút ra tập kết tại vị trí chuẩn bị đội hình tiếp tục tiến công. Đại đội còn gần 30 tay súng cắm chốt bên những lùm cây dại bờ kênh. Đề phòng bị pháo kích, từng tốp chiến sĩ phân tán đội hình đợi lệnh. Hưng và Thịnh phủ cỏ kín người ém ngoài cùng cảnh giới. Sốt ruột vì các mũi tiến công không dứt điểm được mục tiêu, Thịnh nghiêm giọng: “Lô cốt lớn giữa trung tâm chúng đặt 4 khẩu 14ly5. Các hệ thống bảo vệ nghiêm ngặt, nếu dùng cả sư đoàn tiến công chắc cũng khó có thể đánh vỗ mặt. Tẩn nó, cánh ta phải đột nhập, cắt tiết bọn chỉ huy, khóa mõm hỏa lực bằng thuốc nổ”. Ông Hưng gạt đi: “Đánh kiểu ấy mất thời gian lắm. Quân chủ lực đang thần tốc tiến công giải phóng Sài Gòn, ta phải chớp thời cơ, không thể chờ đợi”. “Là tao nói vậy, chứ các thủ trưởng cũng tính nát óc rồi. Mỗi giờ nó truyền tin, nhiều xương máu bộ đội đổ xuống”. 
Bất ngờ Trần Vỹ Thịnh phát hiện toán lính từ chi khu quân sự gần đó kéo tới định tạt sườn, tập kích đội hình tấn công của ta. Không để chúng kịp ra tay, Thịnh giật áo ông Hưng báo hiệu, cả hai lao tới quét AK, tung lựu đạn vào toán lính. Tình huống ngoài dự liệu, nhưng chỉ ít phút toàn bộ toán lính bị diệt gọn. Đại đội duy nhất Trần Vỹ Thịnh hy sinh. Đại đội trưởng Vũ Hà quyết định chôn cất Thịnh bên gốc cây quéo trên mảnh đất gần đó. Ông vẽ sơ đồ ngôi mộ, gấp gọn đút vào túi áo ngực: “Nếu tôi hy sinh, các cậu chuyển mảnh giấy này cho tiểu đoàn bộ”. Không thể bắn các loạt đạn tiễn biệt, những người lính chào nhau bằng nắm đất nhuộm đầy nắng.
9 giờ sáng 30/4/1975, Ban chỉ huy quyết định giao ông Hưng chỉ huy phân đội cảm tử, đánh thẳng vào cổng chính, tiêu diệt ổ phòng ngự tạo thời cơ cho đồng đội xông tới. Tại sở chỉ huy, ta bắt sống tên trung tá chỉ huy Đài ra đa Phú Lâm và yêu cầu hắn hạ lệnh cho binh lính buông vũ khí.
Cả chiến đoàn đông nghẹt sĩ quan binh lính ngụy kéo ra hàng, súng đạn vứt thành đống trên con đường dẫn vào khu trung tâm. Lo sợ bị bắn nhầm, tất cả bọn chúng đều cởi quần áo dài, chỉ mặc xà lỏn. Khi lá cờ giải phóng kéo lên trên căn cứ, một chiến sĩ phát hiện ông Hưng máu đầm đìa ngực áo và đột nhiên bất tỉnh. May mắn viên đạn không vào trúng tim. 
Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, ông Hưng đã tham gia nhiều trận đánh, nhưng ký ức về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 luôn tươi mới, nhiều cảm xúc. Bản lĩnh, ý chí của những người lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước truyền lửa cho ông vượt qua mọi khó khăn của cuộc sống.
Hoàng hôn dần nghiêng tím. Nắng cuối ngày vắt lên vai ruộng vườn nhấp nhánh. “Mày về quê thôi Thịnh. Ngày mai, Tỉnh đội sẽ liên hệ với địa phương…”. Ông Hưng nói nhỏ, khoác ba lô đựng hài cốt, cố đi cẩn thận qua lối mòn bùn đất trơn nhẫy sợ mình ngã làm bạn đau. Chiếc ba lô nhẹ bẫng, khác hẳn thời cõng núi vượt Trường Sơn. Ngày ấy trên lưng ông là đạn, gạo, bây giờ là lời hứa tìm nhau.


*


Lễ đón hài cốt liệt sĩ Trần Vỹ Thịnh về an táng tại quê nhà được chính quyền địa phương tổ chức trọng thể. Các cựu chiến binh và nhân dân trong xã có mặt đông đảo trong niềm xúc động vô bờ bến. Chợt một người được Ban Tổ chức giới thiệu là Tổng Giám đốc Công ty Thái Bình Dương Trần Huy Hoàng, con trai liệt sĩ Trần Vỹ Thịnh bước lên bục khiến ông ngỡ ngàng.
Với chính sách dành cho thương binh, khi ra quân ông Hưng được cử đi học và ra trường làm việc tại Công ty Thái Bình Dương. Trước khi nghỉ chế độ, ông là Trưởng Ban đổi mới quản lý của công ty. Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp đa sở hữu, sợi dây gắn kết giữa bộ máy cán bộ công nhân cũ, mới lỏng lẻo dần. Ông chỉ biết công ty vẫn làm ăn phát đạt qua báo chí, cho đến một ngày… 
Bốn năm trước, đứa cháu đích tôn của ông Hưng tốt nghiệp đại học và dự định ở lại Hà Nội lập nghiệp. Tham quan hội chợ, ông bắt gặp dòng trạng thái trên tấm biển quảng cáo của Công ty Thái Bình Dương với nội dung tuyển hàng trăm kỹ sư và công nhân phục vụ yêu cầu phát triển. Về nhà ông thuyết phục thằng cháu xin vào làm việc tại công ty bằng mọi lý lẽ. Chiều ý ông, thằng bé lưỡng lự. Ngay lập tức ông bắt xe taxi đưa cháu đến công ty. Gì thì ông cũng làm việc tại đó nhiều năm, lớp cán bộ hiện nay không ít người ông từng dìu dắt. Cháu ông học đúng chuyên ngành công ty thông báo đang cần, lẽ nào họ không chút vị nể.
Người Trưởng phòng tổ chức đón tiếp ông niềm nở, xem qua hồ sơ, ý tứ nhắc cháu ông ra ngoài hành lang chờ, nói với ông đầy vẻ khổ tâm:
- Với bác em nói thật: công ty “làm màu” với lãnh đạo tỉnh thôi. Dự án mới ký tắt, giả dụ ký thật cũng lấy đâu tiền triển khai. Hay thế này: Tuyển dụng sếp chỉ thị mình sếp quyết. Em đưa bác gặp Tổng Giám đốc.
- Thôi, ông ấy mới về không biết tôi là ai, gặp cũng chả ích gì.
- Bác từng là Trưởng Ban đổi mới quản lý công ty, không có gì phải ngại – Người trưởng phòng tổ chức nài nỉ khiến ông buộc phải đứng lên. 
Tổng Giám đốc Trần Huy Hoàng nghe trưởng phòng tổ chức giới thiệu, bắt tay ông hờ hững:
- Thì ra bác là người soạn thảo điều lệ công ty. Điều lệ gì mà tôi đại diện vốn chủ sở hữu nhà nước, nắm cổ phần chi phối chả có quyền hành gì? Đối tác ngoài muốn đầu tư lại nhiêu khê, đủ thứ trên đời vướng mắc.
- Chúng tôi soạn điều lệ theo các quy định thời điểm đó. Nếu hiện tại bất cập, vẫn có thể sửa đổi thông qua Đại hội đồng cổ đông.
- Thủ tục ai cũng hiểu, nhưng một khi Nhà nước không thể tăng vốn, đối tác họ bỏ tiền ra, lúc ấy vốn họ lớn hơn Nhà nước, họ thay tôi chứ không à? Nguyên tắc biểu quyết của Đại hội đồng cổ đông là đối vốn. Quyền quyết định của cổ đông tỷ lệ thuận với số lượng cổ phần họ nắm giữ. Cái ban ấy tôi đã cho giải thể. Lẽ ra phải bố trí những người trẻ, họ linh hoạt ứng biến hơn.
Không để câu chuyện về cổ phần hóa đi quá xa, người trưởng phòng nhẹ nhàng trình bày việc ông Hưng xin việc cho cháu. Trần Huy Hoàng lạnh lùng:
- Công ty cần người làm việc chứ không cần kỹ sư tập sự. Bác khuyên cháu làm việc ở đâu đó cho thạo rồi gặp tôi sau - Hoàng quay sang người trưởng phòng - Cậu rót nước mời bác, tôi đang xem dở bản báo cáo. 
Hoàng trở lại bàn làm việc có chiếc biển ghi tên màu vàng nhóng nhánh. Biết bị từ chối và đuổi khéo, ông Hưng đứng lên, chào xã giao và không ngoảnh lại.


*


Trên đường hành quân ra mặt trận, Trần Vỹ Thịnh nhận thư vợ báo tin sinh con trai, anh tưng tửng: “Tao có thằng Thịnh con rồi, giờ sống chết chả là cái đinh gì”. Ông Hưng không ngờ người con đó lại là Trần Huy Hoàng. Từ hôm ở công ty trở về, ông cố gạt bỏ những ý nghĩ không hay về thái độ của vị Tổng Giám đốc để sống thanh thản. Mỗi thời mỗi khác, cung cách ấy có thể xuất phát từ nhiều áp lực, để bụng chả hay ho gì.
Khác với mọi bận, tham dự lễ đón hài cốt liệt sĩ ông không gắn tấm huân chương nào trên quân phục. Ông nghĩ người tuyên thệ với Tổ quốc bằng nấm mộ mang tên mình không đòi hỏi được tri ân, người còn sống tiễn họ chẳng cần thể hiện cho ai biết công trạng.
Kết thúc buổi lễ, cảm thấy mình thực sự nhẹ lòng vì đã trọn tình vẹn nghĩa với đồng đội, ông Hưng gọi người cháu lái xe đón về nhà. Trần Huy Hoàng đứng ở cổng nghĩa trang liệt sĩ mời từng người tới nhà hàng gần đó dùng bữa. Bắt tay ông, Hoàng ngơ ngác:
- Hình như em đã gặp bác ở đâu?
Người trưởng phòng tổ chức đứng bên cạnh Tổng Giám đốc, mau miệng:
- Đây là bác Hưng, nguyên Trưởng ban đổi mới quản lý của công ty. Em vừa được biết bác là bạn chiến đấu với ông cụ nhà ta. Bác vào nơi chôn cất ông tìm hài cốt đưa về quê.
Xe đến, ông Hưng cảm ơn lời mời của Trần Huy Hoàng và ra về, không để ý Hoàng nói những gì và lập cập bước theo sau.
Ngả người trên ghế, ông miên man nghĩ về những kỷ niệm bên đồng đội. Trong ánh nắng dịu dàng của miền quê trung du, ông như thấy nụ cười của những người ngã xuống trên chiến hào sáng lên!.