Thanh âm của rừng

Hà Sương Thu 08:50, 29/06/2026

Khi hoàng hôn rút chân khỏi vạt núi cuối cùng, để lại sắc tím mờ trên đỉnh Đồn Đèn, cũng là lúc rừng bắt đầu cất tiếng thì thầm. Tôi thường ngồi một mình trước hiên ngôi lán nhỏ, nghiêng mình lắng nghe từng âm thanh rì rầm của bóng tối đang len về từ các triền đồi xa. Mỗi đêm, rừng đều hát một bài ca khác, dịu dàng như lời ru “Ứ noọng noòn”, nhịp nhàng như bước chân người cha rẽ cỏ về nhà sau một ngày cuốc nương.

Minh họa: Hoàng Báu
Minh họa: Hoàng Báu

Gió đầu đêm thổi ngang lán, qua những tán nghiến, qua cây gạo rậm rạp như ai đó nhẹ tay mở một cánh cửa. Gió rừng không dữ dội, không khô khốc. Gió ở đây mềm như dải lụa lướt trên tóc, mang theo mùi của đất ẩm, của rêu non, của mùi bụi mai mùa măng mọc và phảng phất đâu đó hương xôi ngũ sắc đang bốc hơi nghi ngút trong bếp nhà ai.

Cả nhà tôi quây quần bên bếp lửa. Đêm nay chúng tôi ở lán, thưởng thức từng thanh âm, hương vị rừng theo cách riêng của người bản địa. Mùi thịt dúi om gừng nghệ bố làm “lẩu ba” bốc lên nghi ngút, xộc vào mũi xua tan cảm giác cồn cào đói gần như mệt lả sau một ngày vun ngô. Sau bát rượu ba nóng hổi, bóng lưng của bố đổ dài trên vách, cắm cúi mài con dao cho sắc để ngày mai lại phát rừng. Những nhát dao xoàn xoạt sáng loáng vung lên như ánh chớp. Bữa cơm dẻo thơm, rượu ba làm đôi má tôi ửng hồng bên bếp lửa. Khi bụng ấm tôi leo lên chiếc giường tre cùng mẹ khâu chiếc thông nhỏ đựng hạt giống. Mũi kim trên tay mẹ thoăn thoắt nhịp nhàng, chiếc thông chàm nhỏ dần nên hình hài xinh đẹp. Đầu hè nhưng gió hiu hiu thổi, ngoài hiên kia ánh trăng mười sáu dịu dàng dát bạc trên nền trời trong veo. Tôi yêu cái cách đêm rừng gọi về sự sống bằng âm thanh. Không ồn ào, không rộn ràng, mà đầy đủ, đằm thắm, chân thật đến lặng người. Khi ánh đèn thị trấn phía xa bắt đầu lấp lánh như chuỗi xà tích gắn lên vạt áo chàm, thì cũng là lúc tiếng chim “Pò ơi” vang lên từng hồi đơn độc từ bãi lau sát bờ suối. Tiếng kêu khàn đục mà da diết, như thể con chim ấy đang mang trong lòng một nỗi nhớ dài bằng cả dãy núi mờ xa.

Mỗi lần như thế, tôi lại nhớ những đêm xưa. Những đêm bà thường ngồi bên bếp lửa, lặng im, rồi chậm rãi kể cho tôi nghe chuyện ma mị, huyền bí của núi rừng, chuyện mụ Dạ Dần, sự tích Hồ Ba Bể, đặc biệt sự tích con chim “Pò ơi”. Bà kể giọng chậm rãi, trầm ấm có sự đơn độc của người từng trải. Giọng kể của bà ám ảnh suốt một tuổi thơ nghèo khó: Ngày xửa ngày xưa, khi những bản Tày dưới chân núi còn nghèo lắm, cứ đến mùa giáp hạt là bếp nhà nào cũng vơi dần tiếng sôi của nồi cơm độn sắn. Người dân phải vào rừng sâu đào củ mài để chống đói qua ngày. Có hai cha con nọ sống nương tựa vào nhau. Một buổi sớm mù sương, người cha đeo gùi, dắt con trai nhỏ vào rừng tìm củ mài. Hai cha con đi hết quả đồi này sang khe núi khác, nhưng chỉ gặp những hố đào bỏ lại của người đi trước. Dây mài hiếm hoi như đã trốn sâu vào lòng đất. Hôm ấy, khi mặt trời ngả về phía đỉnh núi, bụng đói cồn cào, người cha bỗng reo lên khi nhìn thấy một dây mài xanh mướt luồn dưới lớp lá mục. Ông vội cầm thuổng đào. Thế nhưng lạ thay, đào mãi, đào mãi, dây mài chỉ toàn rễ nhỏ ngoằn ngoèo, chẳng thấy củ đâu. Người cha không nản, vẫn cúi mình bới đất. Hố càng lúc càng sâu, đất đá càng lúc càng cứng. Chiều tàn. Bóng núi phủ kín cánh rừng. Vì đói khát và kiệt sức, người cha bỗng lảo đảo rồi cắm đầu xuống hố sâu. Cậu bé hoảng hốt chạy đến. Em cố kéo cha lên nhưng đôi tay nhỏ bé chẳng đủ sức. Giữa rừng đêm hun hút, chỉ còn tiếng gió luồn qua ngọn cây.

Cậu bé ôm miệng hố, khóc đến khản giọng: Pò ơi!... Pò ơi!... (Cha ơi!... Cha ơi!...)

Tiếng gọi đau đớn vang xa khắp núi rừng, vọng qua các sườn non, tan vào màn sương đêm lạnh giá.

Cậu bé gọi mãi, gọi mãi cho đến khi kiệt sức. Thương đứa con hiếu thảo, đất trời đã hóa em thành một loài chim nhỏ. Từ đó, cứ mỗi mùa giáp hạt, khi gió xuân còn se lạnh trên nương rẫy, đặc biệt vào tháng ba, loài chim ấy lại bay về các sườn núi, cất tiếng kêu da diết:

-Pò ơi!... Pò ơi!...

Mỗi lần nghe câu chuyện này, ba chị em tôi không ai nói với ai, đều cùng nhìn nhau, ôm bà, nước mắt lặng lẽ rơi. Tiếng bà trong đêm sâu thẳm ấy, có lẽ ngoài âm thanh chú chim nhỏ đơn độc kêu giữa rừng sâu lạc lối thì trong giọng kể của bà, rừng cũng từng có những đêm hát then, những mùa thương nhớ ngát hương như mảnh khăn chàm còn vương trên lối nhỏ cửa rừng như để tiếc thương hai cha con năm nọ.

Đêm nay, tiếng côn trùng vang lên rỉ rả như bè đàn từ phía tán rừng sâu. Ở một góc tối nào đó, tiếng sóc chuyền cành lao xao, rồi im bặt. Rồi lại đâu đó, tiếng ếch vang lên từ khe đá, vọng vào như tiếng gõ cửa chậm rãi. Cứ thế, đêm rừng là bản hòa ca của những sinh vật nhỏ bé nhưng đầy sức sống. Không cần ánh đèn, không cần sân khấu, chúng vẫn ngân vang bằng sự hiện diện khiêm nhường nhất. Tiếng suối Khuổi Luông đổ rầm rầm phía xa như thác. Núi Đồn Đèn chìm trong màn đêm tĩnh mịch.

Gần nửa đêm, mùi trám rụng dưới hiên bắt đầu dậy lên, ngai ngái nhưng thân quen như mùi tóc mẹ khi đi chợ về. Mùa này, những cây trám quanh lán bắt đầu cho quả. Mỗi lần trám rụng, là một tiếng “bụp” khẽ vang lên trong đêm, như nhịp đập của rừng lặng lẽ mà bền bỉ. Tôi thường nhặt những quả trám ấy đem ỏm, rồi đem hấp cùng nếp nương thơm dẻo món quà của rừng, của đất. Mùi vị của trám rừng da diết như thôi thúc ta tìm về cội sau những nẻo lạc lối.

Xa xa, tiếng chó sủa vọng về từ bản dưới chân núi, những ngọn đèn vàng hắt ánh sáng lên những mái nhà cao tầng. Ba Bể vẫn thức trong tiếng đàn tính, tiếng hát then, tiếng gõ bát uyển chuyển từ điệu múa của đội văn công từ một quán nhỏ nào đó, nhưng đứng từ rừng nhìn về, tất cả chỉ như một vệt sáng mờ run rẩy trong đêm. Giữa cái nhộn nhịp nơi phố thị, rừng vẫn giữ cho mình một nhịp thở riêng, chậm rãi, sâu sắc và thủy chung như tấm lòng người Tày.

Đêm ở rừng Đồn Đèn không đen kịt như người ta vẫn tưởng. Ánh trăng, khi lên tới đỉnh núi, sẽ chiếu xuống cả thung lũng một màu trắng huyền ảo. Khi ấy, tôi thấy rõ từng cành cây lay động, từng bóng chim sà xuống bên vườn ngô đang trổ lá xanh mướt. Dưới vòm trời bao la, mọi âm thanh đều trở nên rõ nét như một bản nhạc không lời mà tôi là người độc nhất đang lắng nghe.

Đêm rừng dạy cho tôi biết lắng nghe. Không chỉ là âm thanh của gió, của chim, của lá, mà còn là tiếng vọng của lòng mình. Trong tĩnh mịch ấy, tôi thấy rõ sự sống đang vận động không ngừng, nhẹ nhàng mà mãnh liệt. Và tôi biết, mình không thể rời xa nơi này. Rừng đã ngấm vào máu, vào da thịt, thành một phần giọng nói, ánh mắt và cả giấc mơ của tôi.

Tôi tự hỏi: Liệu những người sinh ra và lớn lên nơi khác, có thể cảm nhận được hết sự dịu dàng trong tiếng đêm rừng này không? Những bữa cơm gia đình trong lán nhỏ, hiện diện những gương mặt của người thân, trăm năm sau nữa ngoài kí ức có còn dấu vết gì về sự kết nối thiêng liêng của tình cảm gia đình. Hay chỉ những ai từng nằm nghe mưa rơi trên mái gianh, từng cõng nước qua suối, từng nhóm bếp than khi trời chuyển sương, thấy cùng nhau qua những đêm ở rừng mới thật sự thấy kết nối đó là một phần máu thịt?

Mai rồi, khi ai đó hỏi về quê hương, tôi sẽ không kể về núi cao hay hồ rộng, không khoe suối trong hay ruộng bậc thang dài. Tôi chỉ kể: “Ở quê tôi, đêm xuống, rừng bắt đầu hát. Và trong tiếng hát ấy, tôi nghe thấy cả tuổi thơ, cả tình yêu và cả nỗi nhớ không tên”