Cha tôi may mắn sống sót trở về sau cuộc chiến tranh chống Mỹ. Với thương tật trên 81%, chiến tranh tàn khốc đã cướp đi của chàng trai cường tráng thuở nào một con mắt, một cánh tay và găm một mảnh vỏ đạn vào hộp sọ. Mỗi khi trái gió trở trời, cơn đau nhức nhối hành hạ nhưng chỉ cần thấy đàn cháu bi bô cười nói là ánh mắt cha ngời lên niềm hạnh phúc vô bờ, hay những lúc có chuyện vui buồn, nhìn cha lo lắng cho gia đình, quê hương, làng xóm bằng tất cả sức lực và nhiệt huyết, tôi hiểu rằng ẩn sâu trong hình hài không còn nguyên vẹn ấy là một trái tim dũng cảm, kiên cường và chan chứa yêu thương được tôi luyện, vun bồi suốt bao năm cha nếm mật nằm gai nơi chiến trường bom rơi đạn lạc.
![]() |
| Minh họa Dương Văn Chung |
Tôi thích nhất những đêm hè trăng thanh, gió mát, trên nền trời tiếng sáo diều ngân nga trầm bổng, cả gia đình tôi cùng những người hàng xóm quây quần bên ấm nước chè xanh phía trước sân nhà, tay phất phất chiếc quạt mo vừa ngắm sao trời vừa nghe cha kể chuyện. Giọng cha chậm rãi mà trầm ấm, nhẹ nhàng như rót vào ký ức tuổi trẻ chúng tôi những hào hùng, oanh liệt, những đắng cay, gian khổ, nhọc nhằn mà ông cha ta phải đổi bằng xương máu để hôm nay đất nước được thanh bình.
Lên mười tám, cha cũng như bao chàng trai, cô gái khắp mọi miền quê nghèo khó bấy giờ phải rời xa vòng tay yêu thương của gia đình, làng xóm, xa người mình thầm thương chưa một lần hò hẹn, gác lại ước vọng thanh xuân khi trang vở còn tươi màu mực tím để lên đường theo tiếng gọi của non sông. Dưới trời bom đạn, trái tim non tưởng chỉ biết phập phồng lo sợ lại dám ngoan cường đối mặt với hiểm nguy nơi rừng thiêng nước độc, đói khát, bệnh tật, hay súng đạn của quân thù để chiến đấu hết mình vì Tổ quốc. Ngọn lửa hờn căm càng cháy lên mãnh liệt khi ngày ngày chứng kiến đồng đội của mình thương vong, đói rét, bệnh tật giữa chốn rừng sâu, chứng kiến nỗi lầm than của người thân, của triệu triệu đồng bào khi non sông nguy khốn. Trái tim cha đã hoà chung nhịp đập với hàng triệu trái tim yêu nước khác lúc bấy giờ. Ai cũng sẵn sàng hy sinh tuổi trẻ, quên cả nỗi đớn đau hay cái chết chực chờ trước mặt, quên cả ước vọng thanh xuân ấp ủ trong lòng để can trường chiến đấu. Đó là vũ khí vô song, là sức mạnh phi thường để làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975.
Mỗi ngày cha lật từng ngăn ký ức trong tim về những người đồng đội kể cho con cháu. Lúc thì đứa em cùng quê chưa kịp rời ghế nhà trường đã phải lên đường nhập ngũ, lúc thì người bạn vừa cưới vợ chưa kịp ấm gối chăn. Ai nấy đều mang dáng hình còm nhom, đen nhẻm vì đói nghèo lam lũ. Họ nuôi ước mơ xây được mái nhà, ước làm bờ vai cho gia đình nương tựa, ước được cùng con khôn lớn mỗi ngày, được phụng dưỡng đấng sinh thành khi tuổi già sức yếu. Thế nhưng tất cả đành gác lại để lên đường khi non sông hiệu triệu. Những ngày đầu ai nấy đều rụt rè vì khiếp sợ nhưng rồi ít lâu sau, khi chứng kiến đồng đội mỗi ngày đớn đau nằm xuống, chứng kiến sự man rợ của kẻ thù thì sự hờn căm hóa thành sức mạnh, dũng khí vô song. Họ chiến đấu hết mình không quản ngại hy sinh. Từng ngày cứ thế trôi đi, đồng đội cha chẳng còn bao người ở lại, họ hóa mây trời cho Tổ quốc bình yên.
Đất nước hoà bình cha may mắn sống sót nhưng mang trên mình thương tật nặng. Mặc dù được Nhà nước cưu mang, chăm sóc nhưng cha không cam lòng chấp nhận sống như người tàn phế. Cha trở về và bắt tay vào xây dựng quê hương cùng với mọi người. Nhiều năm tham gia làm cán bộ trong trại điều dưỡng thương binh Nghệ Tĩnh với vai trò là thủ trưởng. Đến lúc nghỉ hưu, cha về quê làm cán bộ kiểm tra Đảng cho hợp tác xã, rồi bí thư chi bộ thôn xóm. Phẩm chất trung thực, yêu nước, thương dân, cần cù, chịu khó của người lính Cụ Hồ trong cha luôn luôn được phát huy, gìn giữ. Với gia đình, cha luôn cùng mẹ gánh vác, lo toan mọi việc, cùng mẹ cuốc cày khai phá ruộng hoang nuôi đàn con từng ngày khôn lớn. Ở vị trí nào, cha cũng làm tốt nhất công việc của mình để sống thêm cho những người ngã xuống.
Tuổi xế chiều, cha ân cần giúp các con chăm lo việc nhà việc cửa, ngày ngày đón đưa đàn cháu đến trường chẳng quản gì mưa nắng. Hy sinh là thế nhưng chưa một lần cha đòi hỏi cháu con đền đáp, càng không bao giờ lụy phiền xã hội. Tôi nhìn mái tóc bạc phơ, làn da chi chít đồi mồi xanh xao mà lòng thầm ngưỡng mộ và tự hỏi vì sao trái tim cha lại kiên cường đến thế.
Cha là hiện thân cho lớp người mang màu xanh áo lính, họ từng xông pha nơi chiến trường bom rơi, đạn lạc, vào sinh ra tử biết bao lần. Gian khổ, đớn đau đã tôi luyện nên những con người mang tinh thần thép, không bao giờ khuất phục trước khó khăn. Họ đem hết thảy tâm can và sức lực để cống hiến cho quê hương đất nước, dành trọn cho đời trái tim thắp lửa. Tôi từng được nghe rất nhiều câu chuyện về sự hy sinh âm thầm với những việc làm ý nghĩa của rất nhiều bác cựu chiến binh khi mái đầu đã bạc. Có bác ngày ngày san lấp ổ gà, hay nhặt đồ sắc nhọn rơi trên đường phố, bảo vệ an toàn cho người đi đường, có bác gương mẫu đi đầu trong phong trào xây dựng nông thôn mới, có bác mở ra lớp học tình thương hay trại trẻ mồ côi để cưu mang cho những mảnh đời bất hạnh... Tất cả đều nhớ về những tháng ngày đấu tranh, gian khổ mà nâng niu trân quý cuộc sống này.
Lịch sử vẻ vang của dân tộc ta được làm nên bởi màu xanh áo lính, bởi lòng yêu nước thiết tha và sự hy sinh vô bờ của họ. Trong bất kỳ giai đoạn nào, họ như những vì sao lấp lánh toả ra thứ ánh diệu kỳ soi đường cho lớp trẻ. Ghi nhớ công ơn to lớn đó, hằng năm, trên mọi miền Tổ quốc đều trang trọng tổ chức lễ kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt Sĩ như một nén tâm nhang để tưởng vọng các anh hùng, để nhắc nhở thế hệ hôm nay luôn hướng về nguồn cội, học tập phong cách người lính Cụ Hồ mà xây dựng non sông, đất nước đẹp tươi này.








Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin